TAND QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 409/2024/ HS-ST Ngày: 12/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐÓNG ĐA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai
Bà Nguyễn Thị Cờ
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Lương Thuý Hà - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 413/2024/TLST- HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 410/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Ngọc T, sinh ngày 10 tháng 06 năm 1991; Tại: Yên Bái; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố H ( tổ C ), phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Chỗ ở: không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn N (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị C; Anh chị em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không. Danh chỉ bản số 847 do Công an quận Đ lập ngày 03/10/2024. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ và tạm giam từ ngày 24/09/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Đ- Công an thành phố H; Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00' ngày 24/9/2024, tại khu vực trước số nhà P, tập thể B T, phường V, quận Đ, Hà Nội, tổ công tác Công an phường Ô tiến hành kiểm tra đối với Lê Ngọc T có biểu hiện nghi vấn. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện và tạm giữ trong túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói băng dính màu xanh đen, kích thước khoảng (1,5x1,5)cm, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (1,5x1,5) cm, có chứa 01 viên nén màu hồng và tinh thể màu trắng. Tại chỗ, T khai nhận là ma túy T mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa đối tượng về trụ sở để làm rõ.
Tại Bản Kết luận giám định số 6979A/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:
“01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, trong có 01 gói băng dính màu xanh đen chứa 01 túi nilong màu trắng, bên trong có:
- - 01 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,103 gam.
- - Tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,190 gam".
Quá trình điều tra, ngoài số ma túy nêu trên, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Lê Ngọc T: 01 điện thoại di động Iphone XS max, màu trắng, đã qua sử dụng, số imei1: 357275095492549, số imei2: 357275095444128.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Ngọc T khai nhận: Khoảng 6h30' ngày 24/9/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, T đi xe ôm đến khu vực phố T để tìm mua ma túy. Khi đi đến đầu ngõ B phố T, phường T, quận C, Hà Nội, T gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 500.000 đồng ma túy. Người đàn ông đưa lại cho T 01 (một) gói băng dính màu xanh đen, kích thước (1,5x1,5)cm, bên trong chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, T cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và cất vào túi quần phía trước bên trái đang mặc và đi chơi. Đến khoảng 10h00' cùng ngày, T đi xe ôm về khu vực ga tàu Trần Quý C1, khi đang ở trước khu vực số P, tập thể B T, phường V, quận Đ, Hà Nội thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện và thu giữ tang vật như trên.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Ngọc T, quá trình điều tra không xác định được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý được.
Tại bản cáo trạng số 410/CT-VKS ngày 15/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận Đống Đa truy tố Lê Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sau khi phân tích đánh giá tính chất mức độ phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Ngọc T từ 14 đến 16 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XS max, màu trắng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ phù hợp quy định pháp luật, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với bản kiểm điểm, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của nhân chứng, Bản kết luận giám định số 6979A/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 24/09/2024, tại khu vực trước số nhà P, tập thể B T, phường V, quận Đ, Hà Nội, Lê Ngọc T có hành vi tàng trữ 0,293 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác công an phường Ô kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.
Hành vi của Lê Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, hành vi cất giữ, tàng trữ sử dụng trái phép chất ma tuý gây mất trật tự trị an địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về những vấn đề khác: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 136, điều 331, điều 333- Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số ma túy thu giữ. Đây là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.
-Đối với 01 điện thoại di động Iphone XS max, màu trắng, đã qua sử dụng, số imeil: 357275095492549, số imei2: 357275095444128 thu giữ của Lê Ngọc T. Bị cáo xác nhận chiếc điện thoại này là của bị cáo và có sử dụng vào hành vi phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Từ lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Lê Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2024.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 136, điều 331, điều 333- Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong dán kín, trên các mép dán có chữ ký của đối tượng Lê Ngọc T, giám định viên Nguyễn Thị T1, người chứng kiến Phạm Đức Duy L chữ ký của cán bộ Công an phường N cùng hình dấu Công an phường Ô.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS max, màu trắng, IMEI1: 357275095492549, số imei2: 357275095444128 ( điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong, không thoát được ICLoud).
Hiện các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 96 ngày 11/12/2024).
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký, đóng dấu) Nguyễn Thị Bình |
Bản án số 409/2024/ HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 409/2024/ HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc T. phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
