|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 409/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06/12/2024 Về ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định, bà Dương Thị Kim Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 541/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/10/2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 501/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 330/2024/QÐST-HNGĐ ngày 28/11/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Dương Bá Đ, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
Các đương sự vắng mặt (nguyên đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn là anh Dương Bá Đ trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương ngày 10/11/2000. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì chị H đi lao động tại Đài Loan cho tới nay không về đoàn tụ cùng anh. Mỗi khi nói chuyện qua điện thoại thì vợ chồng lại xảy ra to tiếng do bất đồng quan điểm trong xử lý mọi vấn đề. Nhiều năm nay vợ chồng không có sự yêu thương, tôn trọng, quan tâm đến nhau. Xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh khởi kiện xin ly hôn chị H.
Anh với chị H có hai con chung là Dương Bá A- sinh ngày 21/4/2002 và Dương Bá T- sinh ngày 11/12/2003 đều đã thành niên, phát triển bình thường về thể chất, trí tuệ nên không ai phải nuôi dưỡng.
Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.
Bà Nguyễn Thị H1 (mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị H) trình bày: Do chị H đi lao động tại Đài Loan, anh Đ thì sinh sống tại Việt Nam nên vợ chồng không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc nhau trong sinh hoạt hằng ngày dẫn đến không tin tưởng nhau làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Bà nhiều lần khuyên bảo, hòa giải nhưng vợ chồng không khắc phục được mâu thuẫn. Qua trao đổi với bà, chị H xác định không có biện pháp đoàn tụ cùng anh Đ nên nhất trí ly hôn anh Đ. Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng con chung vì các cháu đã thành niên và không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung. Vì vậy bà đề nghị Tòa án chấp nhận cho vợ chồng được ly hôn.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã tuân theo và chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho anh Dương Bá Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị H. Buộc anh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bị đơn là chị Nguyễn Thị H hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh của chị H ở xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về hôn nhân: Anh Dương Bá Đ và chị Nguyễn Thị H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương ngày 10/11/2000. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Từ trình bày của anh Đ và bà Nguyễn Thị H1 có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa anh Đ và chị H không hòa hợp do bất đồng quan điểm trong xử lý các vấn đề của cuộc sống và không tin tưởng nhau. Mặc dù đã được gia đình hòa giải, động viên nhưng vợ chồng không khắc phục được mâu thuẫn làm cho tình cảm ngày càng lạnh nhạt. Thực tế vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nhiều năm nay. Nhận thấy hôn nhân giữa anh Đ và chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay anh Đ xin ly hôn chị H, chị H nhất trí ly hôn anh Đ nhưng vì các đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa nên cần xử cho anh Đ được ly hôn chị H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Anh Đ và chị H có hai con chung là Dương Bá A- sinh ngày 21/4/2002 và Dương Bá T- sinh ngày 11/12/2003. Các con chung đã thành niên và các đương sự không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Dương Bá Đ và chị Nguyễn Thị H.
- Về án phí: Anh Dương Bá Đ phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0005238 ngày 21/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh Đ đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Phương Thúy |
Bản án số 409/2024/HNGĐ-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 409/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Đ xin ly hôn chị H
