|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 408/2024/DS-PT
Ngày: 27/8/2024
V/v “Tranh chấp hủy hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân
Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 270/2024/TLPT-DS, ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hủy hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất””.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2024, của Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 368/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn:
- Chị Trần Thị Phương T, sinh năm 1982 và anh Nguyễn Thành N, sinh năm 1976; cùng địa chỉ: Số nhà A, Tổ A, ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của chị T: Chị Nguyễn Thị Ý, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quãng Ngãi; chỗ ở hiện nay: F Đ, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh – Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 08-3-2024); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị T: Anh Thạch Huỳnh N1, Luật sư Công ty L4 và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
- Anh Nguyễn Thành N có đơn xin vắng mặt.
- Anh Trần Xuân C, sinh năm 1977 và chị Huỳnh Thị L, sinh năm 1976; cùng địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Anh Trần Văn T1, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của anh C, chị L, anh T1: Ông Nguyễn Hữu L1, sinh năm 1969; địa chỉ: Số B, Hẻm I, Đường T, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh – Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 09-5-2023), có mặt.
2. Bị đơn: Anh Đỗ Thành T2, sinh năm 1989 và chị Đặng Thị Kiều O, sinh năm 1988; cùng địa chỉ: Số H, Đường L, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của anh T2, chị O: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh – Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 20-11-2023), có mặt.
3- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1; địa chỉ trụ sở: H L, phường L, quận Đ, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành L2 – chức vụ: Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc Khối Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ V2 (văn bản ủy quyền ngày 13-4-2015).
Người được ông Nguyễn Thành L2 ủy quyền: Anh Hồ Quốc V –Nhân viên kinh doanh (văn bản ủy quyền ngày 08-11-2023), có đơn xin vắng mặt.
- Văn phòng C2; địa chỉ: khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Tất D1 – chức vụ: Trưởng văn phòng, có đơn xin vắng mặt.
Người kháng cáo: Chị Trần Thị Phương T, anh Trần Xuân C, chị Huỳnh Thị L, anh Trần Văn T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Trần Thị Phương T là chị Nguyễn Thị Ý trình bày:
Giữa chị T và anh T2, chị O hoàn toàn không có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sự thật là chị Phan Thị L3 giới thiệu chị T cùng anh C, anh T1 mua 03 thửa đất số 246, 247 và 248; cùng tờ bản đồ số 41; tọa lạc xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. 03 thửa đất này là của ông Đ1. Hai bên thỏa thuận giá mua là 15.200.000.000 (mười lăm tỷ hai trăm triệu) đồng. Khi đó, bên chị T đặt cọc 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng. Tuy nhiên, đến ngày lập hợp đồng chuyển nhượng có công chứng, bên chị T không đủ tiền nên mới hỏi vay của bà N1 số tiền 6.000.000.000 (sáu tỷ) đồng, tiền lãi 1.000.000 đồng là 5.000đồng/ngày và vay của nhiều người khác. Sau khi đã lập hợp đồng chuyển nhượng có công chứng, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) thì nhận thấy tiền lãi phải trả cho bà N1 quá cao. Từ đó, chị T liên hệ hỏi vay của anh T2 số tiền 8.000.000.000 (tám tỷ) đồng, tiền lãi là 4%/tháng, tiền lãi mỗi tháng là 320.000.000 (ba trăm hai mươi triệu) đồng; mục đích vay tiền của anh T2 là để trả tiền cho bà N1 và một vài người mà bên chị T đã vay để trả tiền mua đất cho ông Đ1. Song song với việc vay tiền của anh T2, chị T có liên hệ Ngân hàng A chi nhánh T4 để thế chấp 03 thửa đất nêu trên vay tiền. Tuy nhiên, sau khi thẩm định thì Ngân hàng chỉ đồng ý nhận thế chấp phần đất anh C được cấp giấy, 02 phần còn lại do có hành lang lưới điện nên để xem xét sau. Phần anh C được cấp giấy được vay với số tiền hơn 02 tỷ đồng. Sự việc này, chị T có thông báo nhưng anh T2 không đồng ý nên không thực hiện được giao dịch. Anh T2 đưa ra điều kiện để được vay số tiền 8.000.000.000 (tám tỷ) đồng là bên chị T phải ký hợp đồng chuyển nhượng 03 thửa đất nêu trên cho vợ chồng anh T2. Trước khi gặp anh T2 thì chị T cùng anh C, anh T1 có thỏa thuận về vấn đề này. Do đó, khi vay tiền thì cả 3 cùng đến Văn phòng C2 để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 03 thửa đất cho anh T2.
Sau khi đồng ý cho vay, anh T2 đã đưa tiền cho chị T 03 lần, tổng cộng 7.640.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 07-7-2022, anh Tâm g số tiền 1.000.000.000 đồng; ngày 08-7-2022, anh Tâm g số tiền 4.640.000.000 đồng (đáng ra giao 5.000.000.000 đồng nhưng anh T2 đã trừ tiền lãi 40.000.000 đồng của khoản vay 2.000.000.000 đồng và tiền lãi 320.000.000 đồng của khoản vay 8.000.000.000 đồng vào tháng 7); khoảng 01 tuần sau thì anh Tâm giao 2.000.000.000 đồng còn lại.
Phía chị T đã trả tiền lãi cho khoản vay nêu trên thông qua việc chuyển vào tài khoản của anh T2, cụ thể: ngày 29-7-2022 chuyển khoản số tiền 105.000.000 đồng và 400.000.000 đồng; ngày 04-8-2022 chuyển khoản số tiền 104.000.000 đồng và 400.000.000 đồng; ngày 20-8-2022 chuyển khoản 100.000.000 đồng; ngày 04-10-2022 chuyển khoản 200.000.000 đồng; ngày 11-10-2022 chuyển khoản 120.000.000 đồng.
Nay chị T yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 12496/2022 ngày 08-7-2022 giữa chị T, anh N và anh T2, chị O ký tại Văn phòng C2 đối với phần đất có diện tích 1310,1m², thuộc thửa 247, tờ bản đồ số 41; tọa lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Lý do, việc lập hợp đồng nêu trên là để đảm bảo cho khoản vay 8.000.000.000 (tám tỷ) đồng giữa chị T và anh T2.
Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án được biết anh T2 đã thế chấp các phần đất tại Ngân hàng để đảm bảo khoản vay. Do đó, chị T yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2301188196097/HĐTC ngày 01-02-2023 giữa anh T2, chị O với Ngân hàng TMCP V1.
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn anh Trần Văn C1, chị Huỳnh Thị L, anh Trần Văn T1 là ông Nguyễn Hữu L1 trình bày: các nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Anh C1, chị L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 12497/2022 ngày 08-7-2022 giữa anh C1, chị L và anh T2, chị O ký tại Văn phòng C2 đối với phần đất có diện tích 2653,8m², thuộc thửa 248, tờ bản đồ số 41; tọa lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Anh T1 yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 12495/2022 ngày 08-7-2022 giữa anh T1 và anh T2, chị O ký tại Văn phòng C2 đối với phần đất có diện tích 2467,2m², thuộc thửa 246, tờ bản đồ số 41; tọa lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Sự việc là do cần nguồn vốn để thanh toán tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn Đ2. Từ đó, giữa vợ chồng chị T, anh C1, chị L và anh T1 có thỏa thuận để chị T tìm nguồn vốn vay số tiền 8.000.000.000 (tám tỷ) đồng. Sau đó, chị T có thông báo người cho vay là anh T2. Tuy nhiên, điều kiện để anh T2 cho vay tiền là phải thế chấp quyền sử dụng đất bằng hình thức lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T2. Sự việc này anh C1, chị L và anh T1 đồng ý nên đã đến Văn phòng C2 ký hợp đồng chuyển nhượng cho anh T2. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì anh C1, chị L cũng như anh T1 không nhận được khoản tiền nào từ anh T2. Tóm lại, lý do yêu cầu hủy các hợp đồng nêu trên là do giữa các bên không có việc chuyển nhượng mà là vay tiền; đồng thời, khi ký hợp đồng chuyển nhượng anh C1, chị L và anh T1 không nhận bất kỳ khoản tiền nào từ anh T2.
Trường hợp có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C1, chị L và anh T1 thì việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu do giả tạo phía nguyên đơn có ý kiến như sau: Anh T2, chị O giao tiền cho ai thì người đó phải có nghĩa vụ trả lại; còn về anh C1, chị L và anh T1 không nhận bất kỳ khoản tiền nào từ anh T2, chị O.
Tại Bản tự khai ngày 20-3-2024, anh Nguyễn Thành N trình bày: Anh là chồng của chị Trần Thị Phương T. Nay anh thống nhất với toàn bộ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của chị T, không bổ sung ý kiến gì thêm.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Đỗ Thành T2 và chị Đặng Thị Kiều O là ông Nguyễn Văn Đ trình bày: do mối quan hệ quen biết nên anh T2 có cho chị T, anh N vay tiền nhiều lần. Cụ thể, trước khi mua bán 03 phần đất đang tranh chấp, vợ chồng chị T có vay của anh T2 số tiền 2.000.000.000 đồng vào ngày 27-6-2022. Đến khi hai bên thỏa thuận mua bán 03 phần đất nêu trên với giá 10.000.000.000 đồng, khấu trừ 2.000.000.000 đồng còn nợ nên anh T2 thanh toán thêm cho chị T là 8.000.000.000 đồng (trong đó đặt cọc 1.000.000.000 đồng, ngày ký hợp đồng thanh toán 7.000.000.000 đồng). Tuy nhiên, đến khi lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C2 thì chị T cho rằng, phần đất chuyển nhượng cho anh T2 được cấp 03 GCNQSDĐ, trong đó vợ chồng chị T có nhờ anh chị em đứng tên GCNQSDĐ dùm 02 phần. Do đó, tại ngày lập hợp đồng ngoài vợ chồng chị T thì còn có những người đứng tên dùm đến ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T2. Hiện anh T2 đã được cấp GCNQSDĐ (chỉnh lý ở trang 4) ngày 12-12-2022 và đã thế chấp 03 GCNQSDĐ cho Ngân hàng V2 chi nhánh Thành phố H để đảm bảo khoản vay 4.700.000.000 (bốn tỷ bảy trăm triệu) đồng.
Sau khi mua bán xong 03 phần đất nêu trên thì vợ chồng chị T tiếp tục hỏi vay anh T2 số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng vào ngày 25-7-2022, mục đích là đáo hạn Ngân hàng cho người khác, số tiền này chị T cũng đã trả cho anh T2 vào ngày 29-7-2022. Đến ngày 01-8-2022, vợ chồng chị T tiếp tục hỏi vay số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng; sau đó chị T có trả tiền gốc và tiền lãi hơn 900.000.000 đồng, hiện còn nợ lại tiền gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 19-10-2022 cho đến nay.
Đối với thông tin chuyển tiền ngày 29-7-2022 với 02 khoản tiền 105.000.000 đồng và 400.000.000 đồng: Anh T2 xác định có nhận 02 khoản tiền này từ chị T. Nội dung số tiền này là chị T chuyển trả cho anh T2 khoản vay 500.000.000 đồng vào ngày 25-7-2022.
Đối với thông tin chuyển tiền vào các ngày 04-8-2022, 20-8-2022, 04-10-2022 và 11-10-2022: Anh T2 xác định có nhận các khoản tiền mà chị T chuyển vào các ngày này. Đây là các khoản tiền chị T chuyển trả cho anh T2 đối với khoản vay 1.000.000.000 đồng vào ngày 01-8-2022.
Với những lập luận nêu trên, nay anh T2, chị O không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, vì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là có thật. Trường hợp có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn thì bị đơn không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 21-11-2023, anh Hồ Quốc V đại diện cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 trình bày: Ngày 02-02-2023, anh T2, chị O vay Ngân hàng số tiền 4.700.000.000 đồng và đã giải ngân ngày 06-02-2023. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là quyền sử dụng đất tại các thửa 246, 247, 248; cùng tờ bản đồ số 41; tọa lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Giao dịch đảm bảo được đăng ký đúng quy định nên Ngân hàng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Đến thời điểm này, anh T2 và chị O không có vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, Ngân hàng không tranh chấp hợp đồng tín dụng ngày 02-02-2023 với anh T2, chị O trong cùng vụ án này. Trường hợp đến thời hạn thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký kết mà anh T2, chị O vi phạm nghĩa vụ thì Ngân hàng sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
Văn phòng C2 có văn bản trình bày: Ngày 08-7-2022, văn phòng C3 chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa đất 246, 247, 248; cùng tờ bản đồ 41; tọa lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh giữa bên chuyển nhượng chị Trần Thị Phương T, anh Nguyễn Thành N, anh Trần Văn T1, anh Trần Xuân C, chị Huỳnh Thị L với bên nhận chuyển nhượng anh Đỗ Thành T2, chị Đăng Thị Kiều O1. Về hồ sơ công chứng được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Do đó, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật, văn phòng không có yêu cầu gì trong vụ án.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm:
Luật sư Thạch Huỳnh N1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị T trình bày: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08-7-2022 giữa chị T, anh N và anh T2, chị O1 là giả cách để che giấu hợp đồng vay số tiền 8.000.000.000 đồng. Sự việc là, giữa chị T, anh T1, anh C cùng hùn vốn mua bán bất động sản, qua thỏa thuận chị T đại diện anh T1, anh C đứng ra vay tiền của anh T2. Sự việc này đã thể hiện rõ tại nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai của anh T1, anh C cũng như người đại diện theo ủy quyền. Sau khi vay, chị T đã nhiều lần trả tiền lãi cho khoản vay 8.000.000.000 đồng bằng hình thức trả tiền mặt và cũng có khi chuyển vào tài khoản anh T2 với nội dung “chuyển tiền lãi tháng”. Căn cứ giá chuyển nhượng, giá Hội đồng đã định theo biên bản định giá ngày 15-11-2023 và giá xác minh thì không có lý do gì đã mua đất với giá 15.200.000.000 đồng nhưng chỉ 02 tháng sau lại bán cho anh T2 với giá 8.000.000.000 đồng là điều vô lý. Ngoài ra, anh T2 thừa nhận đoạn ghi âm cuộc nói chuyện với bà Ngọc H có nội dung câu hỏi “Cưng hỏi nó bán miếng đất cho chị mà miếng đất nó thế cho cưng 8 tỷ đó, phải hông” thì anh T2 trả lời “Ờ, đúng rồi chị”. Như vậy, chính anh T2 đã thừa nhận với bà H rằng có cho vay 8.000.000.000 đồng và chị T thế chấp đất để đảm bảo trả nợ cho khoản vay này.
Từ những chứng cứ và lập luận đã trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Phương T. Chị T đồng ý trả lại cho anh T2 số tiền đã nhận là 7.640.000.000 đồng và tiền lãi vay theo quy định pháp luật.
Tại bản án số 78/2024/DS-ST ngày 06/6/2024 của TAND Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Phương T, anh Nguyễn Thành N, anh Trần Xuân C, chị Huỳnh Thị L, anh Trần Văn T1 đối với anh Đỗ Thành T2, chị Đặng Thị Kiều O; cụ thể:
- Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08-7-2022 giữa chị Trần Thị Phương T, anh Nguyễn Thành N và anh Đỗ Thành T2, chị Đặng Thị Kiều O đối với phần đất diện tích 1310,1m², thuộc thửa 247, tờ bản đồ số 41; tọa lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08-7-2022 giữa anh Trần Xuân C, chị Huỳnh Thị L và anh Đỗ Thành T2, chị Đặng Thị Kiều O đối với phần đất diện tích 2653,8m², thuộc thửa 248, tờ bản đồ số 41; tọa lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08-7-2022 giữa anh Trần Văn T1 và anh Đỗ Thành T2, chị Đặng Thị Kiều O đối với phần đất diện tích 2467,2m², thuộc thửa 246, tờ bản đồ số 41; tọa lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Phương T về việc hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2301188196097/HĐTC ngày 01-02-2023 giữa anh Đỗ Thành T2, chị Đặng Thị Kiều O với Ngân hàng TMCP V1.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/6/2024 chị Trần Thị Phương T, anh Trần Xuân C, chị Huỳnh Thị L, anh Trần Văn T1 kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Luật sư Thạch Huỳnh N1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị T trình bày: Đây là hợp đồng vay tiền bằng cách ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Căn cứ vào các chứng cứ như: Có thể hiện các khoản vay giữa chị T với anh T2, chị O; Giá trị giao dịch thấp so với giá chuyển nhượng; biên bản xác minh giá đất của Tòa án không đồng ý vì đây là ý kiến cá nhân địa chính; nguyên đơn chứng minh có trả lãi cho bị đơn; anh T2 ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 08/7/2022 nhưng đến tháng 12/2022 mới sang tên; đoạn ghi âm giữa bà H với anh T2 có nội dung anh T2 thừa nhận có nhận thế chấp đất của chị T.
Căn cứ vào các chứng cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị T, anh N với anh T2, chị O; giữa anh T1, chị L với anh T2, chị O và giữa anh C với anh T2, chị O; đồng thời hủy hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng TMCP V1 với anh T2, chị O.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Thành N, người đại diện của Ngân hàng TMCP V1 và Văn phòng Công chứng Trần Tất D1 có đơn xin vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của chị Trần Thị Phương T, anh Trần Xuân C, chị Huỳnh Thị L, anh Trần Văn T1 thấy rằng:
[2.1] Ngày 08/7/2022 giữa anh N, chị T với anh T2, chị O có ký hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất 247/1.310,1 m² tờ bản đồ 41, địa chỉ xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh giá chuyển nhượng 1.500.000.000 đồng. Giữa anh T1 với anh T2, chị O có ký hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất 246/2.647,2m² tờ bản đồ 41, địa chỉ xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh giá chuyển nhượng 2.500.000.000 đồng. Giữa anh C, chị L với anh T2, chị O có ký hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất 248/2.653,8 m²tờ bản đồ 41, địa chỉ xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh giá chuyển nhượng 4.000.000.000 đồng.
Trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì ngày 07/7/2022 chị T có ký hợp đồng đặt cọc với anh T2 có nội dung “Chị Trần Thị Phương T đồng ý bán cho ông Đỗ Thành T2 thửa đất 246/2.647,2m²; 247/1.310,1 m², 248/2.653,8 m², tờ bản đồ 41, địa chỉ xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh với tổng số tiền 10.000.000.000 đồng, đặt cọc 1.000.000.000 đồng, còn lại 9.000.000.000 đồng”.
Cả 03 hợp đồng chuyển nhượng ngày 08/7/2022, về hình thức và nội dung của các hợp đồng đều đảm bảo đúng quy định, không vi phạm điều cấm của pháp luật, các bên tự nguyện ký kết hợp đồng, không bị ép buộc.
Chị T thừa nhận sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng anh T2 đưa tiền chị T 03 lần, tổng cộng 7.640.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 07/7/2022, anh Tâm g số tiền 1.000.000.000 đồng (ngày ký hợp đồng đặt cọc); ngày 08/7/2022 là ngày ký hợp đồng chuyển nhượng anh Tâm g số tiền 4.640.000.000 đồng (đáng ra giao 5.000.000.000 đồng nhưng anh T2 đã trừ tiền lãi 40.000.000 đồng của khoản vay 2.000.000.000 đồng và tiền lãi 320.000.000 đồng của khoản vay 8.000.000.000 đồng vào tháng 7); khoảng 01 tuần sau thì anh Tâm giao 2.000.000.000 đồng còn lại.
Anh T2 trình bày vợ chồng chị T có vay của anh T2 số tiền 2.000.000.000 đồng vào ngày 27/6/2022 (có giấy vay tiền ngày 27/6/2022 số tiền 2.000.000.000 đồng). Đến khi hai bên thỏa thuận mua bán 03 phần đất nêu trên với giá 10.000.000.000 đồng, khấu trừ 2.000.000.000 đồng còn nợ nên anh T2 thanh toán thêm cho chị T là 8.000.000.000 đồng (trong đó đặt cọc 1.000.000.000 đồng, ngày ký hợp đồng thanh toán 7.000.000.000 đồng), lời trình bày của anh T2 là có cơ sở.
[2.2] Chị T chứng minh là tiền vay nên có trả lãi cho anh T2 cụ thể:
- Ngày 29/7/2022 chuyển khoản số tiền 105.000.000 đồng và 400.000.000 đồng.
- Ngày 04/8/2022 chuyển khoản số tiền 104.000.000 đồng và 400.000.000 đồng.
- Ngày 20/8/2022 chuyển khoản 100.000.000 đồng.
- Ngày 04/10/2022 chuyển khoản 200.000.000 đồng.
- Ngày 11/10/2022 chuyển khoản 120.000.000 đồng.
Anh T2 thừa nhận có nhận tiền chuyển khoản như trên nhưng là trả tiền vay của những khoản vay khác cho anh T2 cụ thể:
- Ngày 29/7/2022 chuyển khoản số tiền 105.000.000 đồng và 400.000.000 đồng là chuyển trả tiền vay 500.000.000 đồng ngày 25/7/2022, chứng cứ vi bằng chị T cung cấp thể hiện chị T trả tiền vay 500 triệu ngày 25/7.
- Ngày 04/8/2022 chuyển khoản số tiền 104.000.000 đồng và 400.000.000 đồng; Ngày 20/8/2022 chuyển khoản 100.000.000 đồng; Ngày 04/10/2022 chuyển khoản 200.000.000 đồng; Ngày 11/10/2022 chuyển khoản 120.000.000 đồng là chuyển khoản trả số nợ vay 1.000.000.000 đồng ngày 01/8/2022 (có giấy nhận nợ ngày 01/8/2022), chứng cứ vi bằng chị T cung cấp cũng thể hiện nội dung “Chị T trả 500tr của món 1 tỷ 01/8).
Như vậy chị T trình bày các khoản chuyển khoản trên là trả tiền lãi cho khoản vay 8.000.000.000 đồng là không có chứng cứ chứng minh.
[2.3] Nhận thấy, giữa chị T và anh T2 có việc vay tiền rất nhiều lần; giữa chị T và anh T1, anh C có việc hùn vốn để kinh doanh bất động sản. Tại đơn khởi kiện, anh T1, anh C và chị L thừa nhận có thỏa thuận để chị T tìm người hỏi vay tiền, mục đích xoay sở vốn kinh doanh; có nhận tiền vay và đóng tiền lãi cho anh T2. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của chị T xác định ngày 08/7/2022, anh Tâm g số tiền 4.640.000.000 đồng (đáng ra giao 5.000.000.000 đồng nhưng anh T2 đã trừ tiền lãi 40.000.000 đồng của khoản vay 2.000.000.000 đồng và tiền lãi 320.000.000 đồng của khoản vay 8.000.000.000 đồng), điều này chứng minh trước và sau khi lập hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ thì chị T vẫn còn nợ anh T2 số tiền 2.000.000.000 đồng. Đồng thời, phía chị T còn thừa nhận sau ngày 08/7/2022 còn vay của anh T2 02 khoản tiền 500.000.000 đồng và 1.000.000.000 đồng. Vì vậy, nguyên đơn trình bày các lần chuyển khoản vào tháng 8, 9 năm 2022 chỉ để trả tiền lãi cho khoản vay 8.000.000.000 đồng là không có cơ sở. Căn cứ vào các tài liệu mà hai bên cung cấp về việc chuyển khoản trả tiền thì lời trình bày của anh T2 là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[2.4] Về giá chuyển nhượng là do các bên tự nguyện thỏa thuận khi thực hiện giao dịch, không đủ căn cứ để xác định việc lập hợp đồng chuyển nhượng là để che giấu giao dịch vay tiền. Ngoài ra, anh T2 thừa nhận giọng nói, nội dung trong đoạn ghi âm mà chị T cung cấp. Tuy nhiên, đây là cuộc nói chuyện điện thoại giữa anh T2 và một người có tên zalo “Ngọc Hạnh T3” để giao dịch chuyển nhượng 03 thửa đất tranh chấp, không phải xác nhận sự việc giữa chính chị T và anh T2. Lời trình bày của anh T2 là phù hợp với các tình tiết trong vụ án.
[3] Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy 03 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các nguyên đơn và bị đơn; không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng TMCP V1 với anh T2 là có căn cứ.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, chị T, anh C, anh T1, chị L kháng cáo nhưng không có chứng cứ mới chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị T, anh C, anh T1, chị L.
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên chị T, anh C, anh T1, chị L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị T, anh C, anh T1, chị L.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2024, của Toà án nhân dân Huyện Dương Châu, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ các Điều 147, 158, 165, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 117, 124, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 167, 188 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Phương T, anh Nguyễn Thành N, anh Trần Xuân C, chị Huỳnh Thị L, anh Trần Văn T1 đối với anh Đỗ Thành T2, chị Đặng Thị Kiều O; cụ thể:
- Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08-7-2022 giữa chị Trần Thị Phương T, anh Nguyễn Thành N và anh Đỗ Thành T2, chị Đặng Thị Kiều O đối với phần đất diện tích 1310,1m², thuộc thửa 247, tờ bản đồ số 41; tọa lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08-7-2022 giữa anh Trần Xuân C, chị Huỳnh Thị L và anh Đỗ Thành T2, chị Đặng Thị Kiều O đối với phần đất diện tích 2653,8m², thuộc thửa 248, tờ bản đồ số 41; tọa lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08-7-2022 giữa anh Trần Văn T1 và anh Đỗ Thành T2, chị Đặng Thị Kiều O đối với phần đất diện tích 2467,2m², thuộc thửa 246, tờ bản đồ số 41; tọa lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Phương T về việc hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2301188196097/HĐTC ngày 01-02-2023 giữa anh Đỗ Thành T2, chị Đặng Thị Kiều O với Ngân hàng TMCP V1.
3. Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá 2.800.000 đồng, chị Trần Thị Phương T và anh Nguyễn Thành N phải chịu 932.000 đồng, anh Trần Xuân C và chị Huỳnh Thị L phải chịu 934.000 đồng, anh Trần Văn T1 phải chịu 934.000 đồng. Chị T đã nộp xong chi phí này nên anh T1, anh C và chị L có nghĩa vụ nộp trả cho chị T.
4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Trần Thị Phương T và anh Nguyễn Thành N phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013508 ngày 31-5-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Riêng chị Trần Thị Phương T còn phải chịu 300.000 đồng đối với yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp không được chấp nhận, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007056 ngày 21-11-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Anh Trần Xuân C và chị Huỳnh Thị L phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0021509 ngày 11-5-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Anh Trần Văn T1 phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0021510 ngày 11-5-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh
6.Về án phí dân sự phúc thẩm:
Chị Trần Thị Phương T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0007823 ngày 13/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận chị T đã nộp xong.
Anh Trần Văn T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T1 đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0007851 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận anh T1 đã nộp xong.
Anh Trần Xuân C, chị Huỳnh Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh C, chị L đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0007852 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận anh C, chị L đã nộp xong.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Dương Thúy Hằng |
Bản án số 408/2024/DS-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hủy hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 408/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hủy hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ