|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 408/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/08/2024
V/v: “Ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Long
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà
Bà Nguyễn Thị Luận
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà: Ông
Cù Ngô Ngọc Thịnh
- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình về “Ly hôn, nuôi con” thụ lý số: 289/2024/TLST–HNGĐ ngày 14/06/2024, Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/08/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2024/QĐHPT-ST ngày 15/08/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Lê Ngọc D, sinh năm 2001.
- Nơi đăng ký HKTT: Khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
- * Bị đơn: Anh Lê Văn Đ, sinh năm 1998.
- Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.
- Tại phiên tòa: Chị Lê Ngọc D có đơn xin vắng mặt; anh Lê Văn Đ vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn - Chị Lê Ngọc D trình bày:
Về hôn nhân: Chị Lê Ngọc D và anh Lê Văn Đ kết hôn năm 2023 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội ngày 30/10/2023. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà anh Đ tại xã T, huyện C.
Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn, sau đó giữa chị D và anh Đ phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đ chơi bời không chịu làm ăn, vợ chồng không có tiếng nói chung vợ chồng đã ly thân từ tháng 12/2023 cho đến nay, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại tỉnh Phú Thọ ở từ khi ly thân cho đến nay.
Đến nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh Đ nên chị D đề nghị Toà án giải quyết cho chị D được ly hôn anh Đ để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị Lê Ngọc D và anh Lê Văn Đ không có con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Lê Ngọc D không yêu cầu giải quyết.
* Anh Lê Văn Đ vắng mặt trong suốt quả trình giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày.
* Tại biên bản ghi ý kiến của ông Lê Văn B, sinh năm 1975 là bố của anh Lê Văn Đ có ý kiến:
Anh Lê Văn Đ và chị Lê Ngọc D quen biết nhau tại Hà Nội và sau đó được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục tại địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, sau khi kết hôn thì vợ chồng anh Đ chung sống cùng vợ chồng ông B. Trong thời gian chung sống, chị D đã 03 (Ba) lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở. Anh Đ cũng đã nhiều lần khuyên bảo chị D nhưng không được. Chị D đã bỏ về nhà bố mẹ tại tỉnh Phú Thọ từ tháng 11/2023 cho đến nay. Anh Lê Văn Đ và chị Lê Ngọc D không có con chung. Ông B đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Chị Lê Ngọc D có đơn đề nghị xin được xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Văn Đ. Anh Lê Văn Đ vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ có quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; chị Lê Ngọc D chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án. Anh Lê Văn Đ chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Ngọc D và cho chị D được ly hôn anh Lê Văn Đ; về con chung và tài sản chung, công sức, công nợ: Không xem xét; về án phí: Chị Lê Ngọc D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng:
- [1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Lê Văn Đ có hộ khẩu thường trú tại: thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, việc giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
- [1.2] Về sự vắng mặt của chị Lê Ngọc D và anh Lê Văn Đ: Chị Lê Ngọc D có đơn xin vắng mặt và anh Lê Văn Đ vắng mặt. Đây là phiên tòa lần thứ 02 nên việc vắng mặt anh Lê Văn Đ tại phiên toà không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.
- [2] Về nội dung vụ án:
- [2.1] Về hôn nhân: Chị Lê Ngọc D và anh Lê Văn Đ kết hôn năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội nên hôn nhân giữa chị D và anh Đ là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị D cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn do không có tiếng nói chung và đã ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay. Nay chị D xin ly hôn anh Đ để ổn định cuộc sống.
- [2.2] Về con chung: Chị Lê Ngọc D và anh Lê Văn Đ không có con chung nên không xem xét.
- [2.3] Về tài sản chung, công sức, công nợ: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Ngọc D và anh Lê Văn Đ đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [2.5] Về án phí: Chị Lê Ngọc D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Xét thấy: Chị Lê Ngọc D và anh Lê Văn Đ đã ly thân được một thời gian, trong thời gian ly thân cả hai đều không có giải pháp cải thiện tình cảm vợ chồng. Nay chị D cương quyết xin ly hôn với anh Đ nên cần xác định mâu thuẫn giữa chị D và anh Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị D và cho chị D được ly hôn anh Đ để cả hai ổn định cuộc sống.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 266, 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 51, 56, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- [1]. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Ngọc D và cho chị Lê Ngọc D được ly hôn anh Lê Văn Đ.
- [2]. Về con chung: Chị Lê Ngọc D và anh Lê Văn Đ không có con chung nên không xem xét.
- [3]. Về tài sản chung: Không xem xét.
- [4]. Về án phí: Chị Lê Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Lê Ngọc D đã nộp 300.000 đồng (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu: BLTU/23 số: 0002165 ngày 13 tháng 06 năm 2024) tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
- [5]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, chị Lê Ngọc D và anh Lê Văn Đ vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoàng Long |
Bản án số 408/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 408/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
