TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 408/2024/DS-PT Ngày: 02 - 8 - 2024 “V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng. |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Minh Tùng. |
| Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 274/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2024/DS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 415/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1966; địa chỉ: Số C, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Cao Minh T và bà Đặng Thị Thúy V, là Luật sư Văn phòng luật sư Chí C thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; ông T xin vắng mặt, bà V có mặt.
- Bị đơn:
- 2.1. Bà Lưu Thị T1, sinh năm 1967; địa chỉ: Số C N, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
- 2.2. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1960; địa chỉ: Số C N, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bà Lưu Thị T1 và ông Trần Văn T2, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn Trần Thị Ngọc H trình bày:
Do nhu cầu cần vốn kinh doanh đồ nội thất nên khoảng thời gian từ năm 2017 đến năm 2022, vợ chồng ông T2 (anh ruột bà H) và bà T1 có vay tiền của bà H nhiều lần, cụ thể:
Ngày 07/02/2017, ông T2 và bà T1 vay số tiền 150.000.000 đồng, ông T2 có làm biên nhận ghi nội dung: Trước sau 150.000.000 đồng. Ngày 04/3/2017, ông T2 và bà T1 vay thêm số tiền 50.000.000 đồng, ông T2 có viết vào cuốn sổ của bà H ghi nội dung: Lấy tổng cộng trước sau 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu). Ngày 08/3/2017, ông T2 và bà T1 vay thêm 200.000.000 đồng và có giao cho bà H giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cấp cho hộ ông Trần Văn T2, ông T2 và bà T1 cùng ký tên vào sổ vay tiền của bà H. Đến ngày 09/9/2017, ông T2 và bà T1 trả cho bà H vốn gốc 50.000.000 đồng; Ngày 01/11/2017, ông T2 và bà T1 trả vốn gốc 100.000.000 đồng và ngày 19/01/2018, ông T2 và bà T1 trả vốn gốc 50.000.000 đồng. Số tiền vay còn nợ là 200.000.000 đồng.
Ngày 08/01/2018 (Âm lịch, là ngày đám giỗ ông ngoại) ông T2, bà T1 vay tiếp số tiền 50.000.000 đồng. Ông T2 có ghi vào sổ nội dung: H có đưa 50.000.000 đồng, còn lại tổng cộng 250.000.000 đồng. Đến ngày 02/3/2018, ông T2 trả cho bà H 50.000.000 đồng vốn vay, còn lại 200.000.000 đồng.
Ngày 02/4/2018, ông T2 và bà T1 vay thêm 50.000.000 đồng, tổng cộng vốn vay là 250.000.000 đồng. Đến ngày 05/6/2018, ông T2 trả cho bà H 150.000.000 đồng, bà H có ghi vào sổ nội dung: Anh T2 trả 150.000.000đ còn lại 100.000.000đ.
Ngày 30/8/2018, ông T2 và bà T1 vay thêm số tiền 50.000.000 đồng, có ghi vào sổ nội dung: Tổng cộng trước sau 150.000.000 đồng.
Khi vay các khoản tiền trên, ông T2 đều ký nhận vào sổ của bà H (bà H giữ) và khi giao tiền đều có mặt vợ chồng ông T2, bà T1.
Ngày 01/9/2019, ông T2 và bà T1 vay thêm số tiền 150.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất hàng tháng là 2%, bà T1 có làm biên nhận nội dung: Tôi tên Lưu Thị T1 có vay của Trần Thị Ngọc H 150.000.000đ với lãi suất 2% và cộng với số tiền vay của chồng tôi là Trần Văn T2 150.000.000đ, tổng cộng là 300.000.000đ lãi suất 2%, vợ chồng tôi có thế chấp chủ quyền nhà đất cho cô H, đến khi chúng tôi trả tiền đủ thì nhận lại giấy tờ nhà. Ngày 05/11/2019, ông T2 và bà T1 vay thêm 150.000.000 đồng, bà T1 có làm biên nhận với nội dung: Trắng có nhận của Út H1 thêm 150.000.000₫ đủ, tổng cộng là 450.000.000đ.
Ngày 01/3/2020, vợ chồng ông T2, bà T1 vay số tiền 100.000.000 đồng. Bà T1 có làm biên nhận ghi tổng cộng số tiền là 550.000.000 đồng. Ngày 01/7/2020, vợ chồng ông T2, bà T1 vay số tiền 450.000.000 đồng, bà T1 có làm biên nhận ghi tổng cộng trước sau là 1.000.000.000 đồng. Ngày 01/12/2020, vợ chồng ông T2, bà T1 vay thêm số tiền là 750.000.000 đồng, bà T1 có làm biên nhận ghi tổng cộng trước sau là 1.750.000.000 đồng.
Đến ngày 01/01/2022, vợ chồng ông T2 và bà T1 vay thêm số tiền 250.000.000 đồng, bà T1 có làm biên nhận ghi tổng cộng trước sau là 2.000.000.000 đồng.
Từ ngày 07/02/2017 đến ngày 01/01/2022, vợ chồng ông T2 và bà T1 vay của bà H1 tổng số tiền là 2.000.000.000 đồng. Tất cả khoản vay đều không thỏa thuận thời hạn vay, lãi suất thỏa thuận là 2%/tháng. Các lần vay tiền đều là tiền mặt và có làm biên nhận, có lúc ông T2 viết biên nhận vào cuốn sổ tay bà H1, có lúc thì bà T1 đại diện viết biên nhận, nhưng khi nhận tiền đều có mặt vợ chồng ông T2 và bà T1. Sau khi vay, ông T2 và bà T1 có đóng lãi vay cho bà H1 mỗi tháng 2% trên tiền vốn vay. Tuy nhiên, thời gian cả năm 2021 do dịch bệnh nên mỗi tháng bà H1 chỉ nhận tiền lãi 30.000.000 đồng/1.750.000.000 đồng vốn vay. Đến năm 2022 thì nhận lãi đầy đủ mỗi tháng là 40.000.000 đồng cho đến tháng 4/2023, tháng 5/2023 trả lãi 35.000.000 đồng và từ tháng 6/2023 đến nay không trả lãi.
Khoảng tháng 11/2023 bà H1 nộp đơn kiện có yêu cầu Hoà giải viên hoà giải, khi hoà giải thì Hoà giải viên hướng dẫn ai trả cũng được và suy nghĩ bà T1 có khả năng để trả nên bà H1 thoả thuận đồng ý cho bà T1 trả 1.900.000.000 đồng, ông T2 trả 100.000.000 đồng. Tuy nhiên bà H1 đã thay đổi ý kiến vì trách nhiệm cá nhân của bà T1 và ông T2 như vậy là không phù hợp và không đảm bảo việc trả nợ nên rút đơn kiện, sau đó nộp đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà T1, ông T2 cùng liên đới chịu trách nhiệm trả nợ.
Nay bà H1 yêu cầu ông T2 và bà T1 cùng liên đới trả vốn vay 2.000.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/6/2023 đến ngày 01/4/2024 với mức lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền là 332.000.000 đồng. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Trần Văn T2 ngày 05/11/2001 và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cấp cho ông T2 ngày 09/3/2009 mà vợ chồng bà T1, ông Tâm g cho bà H1 giữ (không làm hợp đồng thế chấp theo quy định) thì bà H1 tự nguyện đồng ý giao trả cho ông T2, bà T1 khi bản án có hiệu lực pháp luật và giao trả tại Cơ quan thi hành án dân sự. Đối với tiền lãi mà bà T1, ông T2 đã trả trước đây cho bà H1 thì bà H1 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì.
Bị đơn Lưu Thị T1 trình bày:
Bà T1 thừa nhận trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2022, bà T1 có vay tiền của bà H1 nhiều lần, số tiền vay tổng cộng là 1.850.000.000 đồng. Các lần vay tiền, bà H1 giao tiền trực tiếp cho bà T1 tại cửa hàng Đ, tọa lạc số 319 N, Khóm B, Phường B, thành phố S. Khi giao tiền ông T2 có biết vì ông T2 sống chung với bà T1 tại cửa hàng đồ gỗ này, việc bà T1 trả lãi hàng tháng cho bà H1 thì ông T2 cũng biết. Tuy nhiên ông T2 không biết cụ thể số tiền bà T1 vay cũng như số tiền lãi trả hàng tháng cho bà H1 là bao nhiêu.
Từ năm 2017 đến 2018 ông T2 (chồng bà T1) cũng có vay tiền của bà H1 và bà T1 cũng biết. Tính đến ngày 30/8/2018 số tiền vay ông T2 còn nợ bà H1 là 150.000.000 đồng. Khi bà T1 vay tiền của bà H1 thì bà H1 có yêu cầu bà T1 phải chịu trách nhiệm luôn cả số tiền nợ 150.000.000 đồng của ông T2 (thể hiện tại biên nhận ngày
01/9/2019). Ngày 01/01/2022, bà T1 có làm biên nhận xác nhận có nợ bà H1 tổng số tiền vay là 2.000.000.000 đồng (trong đó có số tiền vay 150.000.000 đồng ông T2 còn nợ). Các khoản tiền ông T2, bà T1 vay của bà H1 đều thỏa thuận lãi suất chung là 2%/tháng. Sau khi vay tiền, bà T1 có đóng lãi vay đầy đủ 2%/tháng trên số tiền vay đến tháng 5/2023. Từ tháng 6/2023 đến nay không trả lãi do điều kiện buôn bán khó khăn nên yêu cầu bà H1 không tiếp tục tính tiền lãi vay từ tháng 6/2023 trở về sau.
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông T2, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cấp cho ông T2, hiện bà H1 đang giữ do trước đây khi ông T2 vay tiền có đưa cho bà H1. Sau này để có vốn làm ăn riêng, bà T1 vay tiền của bà H1 và khi viết biên nhận bà H1 yêu cầu bà T1 phải ghi nội dung vợ chồng có thế chấp cho bà H1 giấy tờ trên.
Bà T1 xác định số tiền vay 1.850.000.000 đồng của bà H1 để kinh doanh cửa hàng đồ gỗ do bà T1 đứng tên hộ đăng ký kinh doanh, là nợ riêng của bà T1. Cửa hàng đồ gỗ này trước đây do ông T2 đại diện pháp luật, do ông T2 kinh doanh không hiệu quả nên giao lại cho bà T1 và bà T1 đứng tên hộ đăng ký kinh doanh từ tháng 6/2020 đến nay. Thu nhập của gia đình từ nguồn kinh doanh cửa hàng đồ gỗ, tiền vay của bà H1 sử dụng để kinh doanh tại cửa hàng đồ gỗ, lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh dùng để trả tiền thuê nhà, đất tại địa chỉ kinh doanh mỗi tháng 19.000.000 đồng, phục vụ cho việc mua bán, nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của gia đình vì từ năm 2019 đến nay vợ chồng vẫn sống chung tại cửa hàng Đ (số CN, Khóm B, Phường B, thành phố S) và nuôi một người con chung đã trưởng thành nhưng không có khả năng lao động, do chậm phát triển bẩm sinh.
Trước đây bà H1 khởi kiện đến Tòa án, nhưng ông T2 chỉ thừa nhận còn nợ bà H1 số tiền 100.000.000 đồng, các bên cũng thống nhất ông T2 trả 100.000.000 đồng, bà T1 trả cho bà H1 1.900.000.000 đồng, sau đó bà H1 thay đổi ý kiến, không đồng ý và rút đơn khởi kiện. Nay bà T1 đồng ý chịu trách nhiệm trả toàn bộ số tiền vay 2.000.000.000 tỷ đồng cho bà H1 (trong đó phần bà T1 nợ là 1.900.000.000 đồng, ông T2 nợ là 100.000.000 đồng). Đối với yêu cầu tính lãi vay thì bà H1 xin bà T1 không tính lãi từ tháng 6/2023 trở về sau, vì việc kinh doanh buôn bán khó khăn, không có khả năng đóng lãi. Bà T1 không yêu cầu ông T2 cùng liên đới trả nợ cho bà H1. Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông T2 và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cấp cho ông T2, hiện bà H1 đang giữ, đây là tài sản riêng của ông T2 nên bà T1 không có yêu cầu gì.
Đối với số tiền lãi vay khi bà T1, ông T2 vay của bà H1 có thỏa thuận lãi suất 2%/tháng và bà T1, ông T2 có trả lãi vay 2%/tháng là cao hơn quy định, nhưng tổng cộng số tiền lãi vay đã trả bao nhiêu thì bà T1 không nhớ, do vay và trả lãi vay nhiều lần cho bà H1. Bà T1 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì về số tiền lãi vay trước đây ông T2, bà T1 đã trả cho bà H1.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 02/01/2024 bị đơn Trần Văn T2 trình bày:
Ông T2 thừa nhận có nợ bà H1 số tiền 100.000.000 đồng và đồng ý trả cho bà H1 100.000.000 đồng. Số tiền còn lại 1.900.000.000 đồng do bà T1 vay, sử dụng vào mục đích gì ông T2 không biết nên không đồng ý liên đới và cũng không đồng ý trả lãi phát sinh theo yêu cầu khởi kiện của bà H1. Ông T2 yêu cầu bà H1 phải giao trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho ông T2.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2024/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào các điều 357, 401, 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc H.
Buộc bà Lưu Thị T1 và ông Trần Văn T2 phải liên đới trả cho bà Trần Thị Ngọc H số tiền vốn vay còn nợ là 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) và tiền lãi vay từ ngày 01/6/2023 đến ngày 01/4/2024 là 332.000.000 đồng; tổng cộng là 2.332.000.000₫ (Hai tỷ ba trăm ba mươi hai triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu trả tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lưu Thị T1, ông Trần Văn T2 phải liên đới chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 78.640.000₫ (Bảy mươi tám triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).
Bà Trần Thị Ngọc H được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003801 ngày 24/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Ngọc H đồng ý trả lại cho ông Trần Văn T2 và bà Lưu Thị T1 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 1780, 1052 cùng tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp do UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 05/11/2001 cho hộ ông Trần Văn T2 và bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở địa chỉ nhà số H, đường N, Khóm B, Phường B, thành phố S do UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 09/3/2009 cho ông Trần Văn T2 (hiện các bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở do bà H giữ).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền và thời hạn kháng cáo của đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Bà Lưu Thị T1 kháng cáo yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm, bà T1 không liên đới với ông T2 trả số tiền vay 2.000.000.000 đồng. Bà T1 không đồng ý trả tiền lãi tính từ ngày 01/6/2023 đến ngày 01/4/2024 với mức lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền là 332.000.000 đồng. Bà T1 đồng ý trả cho bà H số tiền 1.900.000.000 đồng.
Ông Trần Văn T2 kháng cáo yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm, ông T2 không liên đới với bà T1 trả số tiền vay 2.000.000.000 đồng. Ông T2 không đồng ý trả tiền lãi tính từ ngày 01/6/2023 đến ngày 01/4/2024 với mức lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền là 332.000.000 đồng. Ông T2 đồng ý trả cho bà H số tiền 100.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn Trần Thị Ngọc H không rút đơn khởi kiện, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn Lưu Thị T1 và Trần Văn T2.
Bị đơn Lưu Thị T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày tranh luận, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lưu Thị T1 và ông Trần Văn T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xư, Thư ký, đương sự và người tham gia tố tụng khác đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý phúc thẩm và xét xư. Đơn kháng cáo của bị đơn Lưu Thị T1 và Trần Văn T2 đúng thời hạn, thủ tục theo luật định nên hợp lệ. Ông T2 kháng cáo, Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi như từ bỏ việc kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông T2.
Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Lưu Thị T1. Do ông T2 là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về án phí đối với ông T2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Đơn kháng cáo của bị đơn Lưu Thị T1 và Trần Văn T2 nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ.
- Người kháng cáo Trần Văn T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt thì bị coi như từ bỏ việc kháng cáo. Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T2.
- Xét kháng cáo của bà Lưu Thị T1 yêu cầu không liên đới với ông Trần Văn T2 trả vốn vay 2.000.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi từ ngày 01/6/2023 đến ngày 01/4/2024 với mức lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền là 332.000.000 đồng, bà T1 đồng ý trả cho bà Trần Thị Ngọc H số tiền 1.900.000.000 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
- [3.1] Bà Trần Thị Ngọc H trình bày từ ngày 07/02/2017 đến ngày 01/01/2022, bà Lưu Thị T1 và ông Trần Văn T2 có vay tiền của bà H nhiều lần, hiện còn nợ vốn vay là 2.000.000.000 đồng nên bà H yêu cầu bà T1 và ông T2 liên đới trách nhiệm tra vốn vay 2.000.000.000 đồng.
- [3.2] Bà T1 thừa nhận từ ngày 01/9/2019 đến ngày 01/01/2022, bà T1 có vay tiền của bà H nhiều lần tổng cộng là 1.850.000.000 đồng; năm 2017, 2018 ông T2 có vay tiền của nhiều lần, sau khi vay có trả vốn vay và còn nợ lại bà H vốn vay 150.000.000 đồng và thừa nhận Giấy tay ngày 01/01/2022 mà bà H giao nộp có nội dung: Chị T1 có nhận tiền của Út H1 250.000.000 đồng, tổng cộng chị T1 nhận tiền trước sau của Trần Thị Ngọc H 2.000.000.000 đồng là do bà T1 viết, ký tên, viết họ tên Lưu Thị T1, trong đó bà T1 nợ của bà H số tiền 1.850.000.000 đồng và chồng bà T1 là ông T2 nợ của bà H số tiền 150.000.000 đồng, nhưng bà T1 đồng ý hoàn trả cho bà H số tiền 2.000.000.000 đồng (trong đó nợ của bà T1 là 1.900.000.000 đồng và nợ của ông T2 là 100.000.000 đồng) theo yêu cầu của bà H. Xét thấy việc bà T1 đồng ý hoàn trả cho bà H vốn vay 2.000.000.000 đồng là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên được Tòa án chấp nhận.
- [3.3] Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ là Sổ tay theo dõi nợ vay của ông T2 và bà T1 do bà H giao nộp cho Tòa án thể hiện việc bà T1, ông T2 vay tiền của bà Hiền từ ngày 07/02/2017 đến ngày 01/01/2022. Thời gian đầu vay tiền thì ông T2 là người viết, ký tên vào Sổ tay và có 02 lần bà T1 có cùng ông T2 ký tên vào Sổ tay nêu trên; từ ngày 01/9/2019 đến ngày 01/01/2022 thì bà T1 viết nội dung, ký tên, viết họ tên của bà T1 vào Sổ tay. Xét thấy, bà T1 và ông T2 là vợ chồng có đăng ký kết hôn năm 1988, vợ chồng bà T1 có kinh doanh cửa hàng đồ gỗ tại số C N, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Bà T1 cho rằng khi mở cửa hàng kinh doanh thì ông T2 đứng tên đăng ký kinh doanh, thời điểm này ông T2 có vay tiền của bà H để kinh doanh đồ gỗ, lợi nhuận từ việc kinh doanh đồ gỗ nhằm phục vụ nhu cầu của gia đình. Sau đó việc kinh doanh không hiệu quả nên giao cửa hàng cho bà T1 đứng tên hộ đăng ký kinh doanh. Bà T1 thừa nhận từ năm 2019 đến 2022 có vay tiền của bà H nhiều lần, đến ngày 01/01/2022 bà T1 có ghi nhận vào Sổ tay của bà H với nội dung trước sau có nợ của bà H 2.000.000.000 đồng. Ở các lần giao nhận tiền vay, bà H giao cho bà T1 tại cửa hàng kinh doanh đồ gỗ của vợ chồng bà T1, khi giao tiền ông T2 có biết vì ông T2 sống chung với bà T1 tại cửa hàng đồ gỗ này. Bà T1 cho rằng số tiền vay 1.900.000.000 đồng của bà H thì bà T1 đã sử dụng vào việc kinh doanh cửa hàng đồ gỗ do bà T1 đứng tên hộ đăng ký kinh doanh nên là nợ riêng của bà T1. Mặt khác, bà T1 cũng xác định nguồn thu nhập của gia đình từ nguồn kinh doanh cửa hàng đồ gỗ, lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh đồ gỗ dùng để trả tiền thuê nhà, đất tại địa chỉ kinh doanh mỗi tháng 19.000.000 đồng, phục vụ lại cho việc kinh doanh, nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của gia đình và từ năm 2019 đến nay vợ chồng bà T1, ông T2 vẫn sống chung tại cửa hàng đồ gỗ đang kinh doanh, nuôi một người con chung đã trưởng thành nhưng không có khả năng lao động. Mặc dù bà T1 là người trực tiếp vay tiền, giao nhận tiền vay với bà H, là người viết giấy tay có nợ 2.000.000.000 đồng của bà H, nhưng bà T1 và ông T2 đã sử dụng số tiền vay của bà H vào việc kinh doanh đồ gỗ để tạo ra nguồn thu nhập của gia đình, bà T1 và ông T2 sử dụng nguồn thu nhập có được chi vào nhu cầu thiết yếu của gia đình mà không nhằm mục đích khác, hiện vợ chồng bà T1 và ông T2 vẫn còn sống chung tại địa chỉ kinh doanh đồ gỗ như nêu trên. Việc bà T1 cho rằng số tiền vay 1.900.000.000 đồng của bà H là nợ riêng của bà T1, không yêu cầu ông T2 liên đới trách nhiệm trả cho bà H vốn vay 2.000.000.000 đồng và ông T2 cho rằng chỉ nợ bà H số tiền 100.000.000 đồng và đồng ý trả cho bà H 100.000.000 đồng, số tiền 1.900.000.000 đồng bà T1 vay, ông T2 không biết nên không đồng ý cùng bà T1 liên đới trách nhiệm trả cho bà H là không phù hợp như đã nhận định trên nên lời trình bày của bà T1 và ông T2 không được chấp nhận. Do đó buộc bà Lưu Thị T1 và ông Trần Văn T2 phải liên đới trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Ngọc H vốn vay 2.000.000.000 đồng.
- [3.4] Ngoài ra bà H còn yêu cầu bà T1 và ông T2 phải liên đới trách nhiệm trả tiền lãi cho bà Hiền từ ngày 01/6/2023 đến ngày 01/4/2024 với lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền là 332.000.000 đồng. Bà T1 không đồng ý trả tiền lãi, lý do việc kinh doanh đồ gỗ đang khó khăn, ông T2 không đồng ý trả tiền lãi theo yêu cầu của bà H. Xét thấy khi giao kết hợp đồng vay tài sản, các bên có thỏa thuận về lãi suất vay, không có thỏa thuận kỳ hạn trả vốn vay nên việc bà H yêu cầu bà T1 và ông T2 có nghĩa vụ phải trả lãi cho Bà H là phù hợp. Tuy nhiên lãi suất vay 2%/tháng mà các bên thỏa thuận cao hơn quy định pháp luật nên bà H yêu cầu trả lãi suất vay theo lãi suất 1,66%/tháng là phù hợp. Bà H trình bày sau khi vay ông T2 và bà T1 có đóng lãi cho bà H theo lãi suất vay là 2%/tháng, nhưng vào năm 2021 do dịch bệnh nên mỗi tháng bà H chỉ nhận tiền lãi 30.000.000 đồng/1.750.000.000 đồng vốn vay, năm 2022 bà H nhận tiền lãi mỗi tháng là 40.000.000 đồng cho đến tháng 4/2023, tháng 5/2023 trả lãi 35.000.000 đồng và từ tháng 6/2023 đến nay không trả lãi. Bà T1 cho rằng sau khi vay bà T1 và ông T2 có trả cho bà H lãi suất vay 2%/tháng, nhưng không nhớ đã trả lãi bao nhiêu tiền do vay và trả lãi vay nhiều lần, từ ngày 01/6/2024 đến nay không trả lãi cho bà H, việc bà T1 trả lãi hàng tháng cho bà H thì ông T2 cũng biết nhưng không rõ bao nhiêu tiền. Do đó việc bà H yêu cầu bà T1 và ông T2 phải liên đới trách nhiệm trả tiền lãi từ ngày 01/6/2023 đến ngày 01/4/2024 với số tiền 332.000.000 đồng là có căn cứ.
- [3.5] Do các đương sự không có tranh chấp, không có yêu cầu gì về số tiền lãi vay đã trả trước ngày 01/6/2023 nên không xem xét.
- [3.6] Từ những căn cứ trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc bà Lưu Thị T1 và ông Trần Văn T2 phải liên đới trả cho bà H số tiền vay còn nợ là 2.000.000.000 đồng và tiền lãi vay từ ngày 01/6/2023 đến ngày 01/4/2024 số tiền 332.000.000 đồng, tổng cộng 2.332.000.000 đồng là có cơ sở.
- [3.7] Bà T1 kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên kháng cáo yêu cầu không liên đới với ông T2 trả vốn vay 2.000.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi từ ngày 01/6/2023 đến ngày 01/4/2024 với mức lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền là 332.000.000 đồng, bà T1 đồng ý trả cho bà H số tiền 1.900.000.000 đồng của bà T1 không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
- [3.8] Theo quy định pháp luật, ông Trần Văn T2 là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí sơ thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định ông T2 được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, sửa bản án dân sự sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm đối với ông T2.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lưu Thị T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông Trần Văn T2 là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tiền án phí phúc thẩm nên được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
- Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn do phù hợp như đã nhận định trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
- Những ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T2, không chấp nhận kháng cáo của bà Lưu Thị T1, sửa bản án dân sự về án phí dân sự sơ thẩm đối với ông Trần Văn T2 do phù hợp như đã nhận định trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 357, 401, 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T2.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lưu Thị T1.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2024/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp về án phí dân sự sơ thẩm.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Ngọc H.
- Buộc bà Lưu Thị T1 và ông Trần Văn T2 phải liên đới trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Ngọc H số tiền 2.332.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm ba mươi hai triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Ngọc H đồng ý trả lại cho ông Trần Văn T2 và bà Lưu Thị T1 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 1780, 1052 cùng tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp do Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 05/11/2001 cho hộ ông Trần Văn T2 và bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở địa chỉ nhà số H, đường N, Khóm B, Phường B, thành phố S do UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 09/3/2009 cho ông Trần Văn T2 (hiện các bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở do bà H giữ).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lưu Thị T1 phải chịu 39.320.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trần Văn T2 là người cao tuổi theo quy định pháp luật nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Trần Thị Ngọc H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 36.332.000 đồng theo biên lai thu số 0003801 ngày 24/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Lưu Thị T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0004146 ngày 25/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Ông Trần Văn T2 là người cao tuổi theo quy định pháp luật nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Tỉnh; - TAND TP. S; - CCTHADS TP. S; - Phòng GĐKTNV-THA; - Lưu: VT, HS (Nghĩa) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hằng (đã ký) |
Bản án số 408/2024/DS-PT ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 408/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
