Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 408/2024/DS – ST

Ngày: 25/9/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đoàn Văn Rỹ
  2. Ông Đỗ Quang Hòa

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú - thư ký Tòa án nhân dân Quận 8.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 231/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 212/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên Q nợ và khai thác tài sản Ngân hàng S, địa chỉ: B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh có đại diện hợp pháp là ông Trần Gia T, sinh năm 1971, địa chỉ: 8 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh - là đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 và Giấy ủy quyền số 5322/2024/UQ-TGĐ ngày 06/6/2024) (có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Vũ Hoàng T1, sinh năm: 1990 (vắng mặt)

Thường trú: B P, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 10/11/2023 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn là ông Trần Gia T trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Nguyễn Vũ Hoàng T1 thỏa thuận ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/10/2022 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Vũ Hoàng T1, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã đồng ý cấp thẻ tín dụng loại Visa Platinum, số thẻ: 436438-1679, hạn mức sử dụng là 200.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn theo bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Nguyễn Vũ Hoàng T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 584.034.400 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 391.100.000 đồng. Số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 06/5/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 220.592.353 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Vũ Hoàng T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng dù phía Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho ông T1 thanh toán. Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu ông Nguyễn Vũ Hoàng T1 phải trả ngay toàn bộ số tiền nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 25/9/2024 là 359.933.648 đồng (trong đó nợ gốc là 220.592.353 đồng, lãi quá hạn là 139.341.295 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 26/9/2024 cho đến ngày trả hết nợ theo quy định của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 10/10/2022.

* Trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt cho ông Nguyễn Vũ Hoàng T1 các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 177, Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông T1 không đến làm việc và hòa giải nên không ghi nhận được ý kiến của ông T1. Ngày 02/8/2024, Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được do bị đơn là ông Nguyễn Vũ Hoàng T1 vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ, đồng thời đại diện nguyên đơn là ông Trần Gia T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.

* Tại phiên tòa:

Chủ tọa phiên tòa công bố: Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do.

Chủ tọa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu:

Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia các buổi làm việc, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là đã tự từ bỏ quyền trình bày và cung cấp chứng cứ của mình.

Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm tính trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn. Trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Theo xác minh của Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh và xác minh ngày 10/6/2024 của Công an P1, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh đã có cơ sở xác định ông Nguyễn Vũ Hoàng T1 có hộ khẩu thường trú tại nhà số B P, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện không còn cư trú tại đây và đi đâu không rõ. Địa chỉ nơi ở hiện tại ông T1 ghi trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng là tại A B, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng qua xác minh thê hiện ông T1 không đăng ký thường trú, tạm trú cũng như không thực tế cư trú tại đây, do đó xác định bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Đại diện nguyên đơn đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét các yêu cầu của nguyên đơn:

Hội đồng xét xử nhận thấy, qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự đã có đủ cơ sở xác định:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Nguyễn Vũ Hoàng T1 có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/10/2022 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng. Hạn mức tín dụng là 200.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,48 %/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch thẻ với tổng số tiền là 584.034.400 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, kể từ ngày kích hoạt thẻ cho tới nay ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 391.100.000 đồng. Theo như bảng tóm tắt sao kê của Ngân hàng thì tính đến thời điểm ngày 25/9/2024 thì ông T1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 359.933.648 đồng (gồm nợ gốc là 220.592.353 đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử là 139.341.295 đồng).

Xét thấy, ông T1 đã sử dụng thẻ tín dụng do Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cấp để thanh toán tiêu dùng cá nhân với số tổng số tiền các lần giao dịch là 584.034.400 đồng. Số tiền này ông T1 phải thanh toán gốc, lãi theo như quy định tại Điều 21 Hợp đồng đã ký. Ông T1 đã trả được tổng cộng số tiền là 391.100.000 đồng nhưng vẫn còn thiếu các khoản nợ gốc, nợ lãi như các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của Ngân hàng. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông T1 phải trả nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 25/9/2024 số tiền là 359.933.648 đồng (gồm nợ gốc là 220.592.353 đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử là 139.341.295 đồng).

Số tiền lãi đã được nguyên đơn tính đúng theo thỏa thuận của hai bên tại hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 3 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên yêu cầu của nguyên đơn về tiền nợ tính đến ngày xét xử và toàn bộ tiền lãi phát sinh tiếp tục tính đến khi thanh toán xong nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng là có cơ sở chấp nhận.

Bị đơn đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nội dung khởi kiện của nguyên đơn nhưng vắng mặt trong tất cả các giai đoạn tố tụng nên Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về án phí: Ông Nguyễn Vũ Hoàng T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tính trên số tiền phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là 17.996.682 đồng. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tại phiên tòa là phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

1.1. Ông Nguyễn Vũ Hoàng T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng giữa ông Nguyễn Vũ Hoàng T1 và Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/10/2022 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kèm theo) số tiền là 359.933.648 (ba trăm năm mươi chín triệu, chín trăm ba mươi ba nghìn, sáu trăm bốn mươi tám) đồng, trong đó nợ gốc là 220.592.353 đồng và nợ lãi quá hạn là 139.341.295 đồng.

1.2. Việc thanh toán tiền được thực hiện một lần tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

1.3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản tiền nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm là 17.996.682 (mười bảy triệu, chín trăm chín mươi sáu nghìn, sáu trăm tám mươi hai) đồng do ông Nguyễn Vũ Hoàng T1 chịu.

H lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.781.000 (sáu triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2023/0042787 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại cổ phần S, ông Nguyễn Vũ Hoàng T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 8;
  • - TAND Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 8;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 408/2024/DS – ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 408/2024/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S. 1.1. Ông Nguyễn Vũ Hoàng T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng giữa ông Nguyễn Vũ Hoàng T và Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/10/2022 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kèm theo) số tiền là 359.933.648 (ba trăm năm mươi chín triệu, chín trăm ba mươi ba nghìn, sáu trăm bốn mươi tám) đồng, trong đó nợ gốc là 220.592.353 đồng và nợ lãi quá hạn là 139.341.295 đồng. 1.2. Việc thanh toán tiền được thực hiện một lần tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger