Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4079/2024/KDTM-ST

Ngày: 29/8/2024

VV/v Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Thanh Giàu
  2. Bà Đặng Thị Thu Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Vào ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 548/2023/TLST- KT ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5080/2024/QĐXXST-KDTM ngày 08 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 6033/2024/QĐST-DS ngày 30/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH một thành viên A.

Địa chỉ: số F Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền có:

Bà Nguyễn Thu T1, sinh năm: 1993 (có mặt)

Theo Văn bản ủy quyền số 3011/UQTT/2023 ngày 30/11/2023

Bị đơn: Công ty TNHH X (vắng mặt)

Địa chỉ: S.6-03.03 tầng 3 - tháp 06 – chung cư T đại lộ M, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1987

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên A (sau đây gọi là công ty A) và Công ty trách nhiệm hữu hạn X (sau đây gọi là công ty X) có ký Hợp đồng dịch vụ an toàn lao động tại công trình xây dựng số 18042023/NL-ADR ngày 18/4/2023. Theo đó, Công ty N dịch vụ giám sát an toàn tại công trình xây dựng D, với đơn giá 15.000.000 đồng/ 1 đơn vị. Thực hiện Hợp đồng, Công ty A đã hoàn tất công việc, xuất hóa đơn và bàn giao đầy đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán cho Công ty X từ ngày 19/4/2023 đến ngày 22/6/2023 nhưng Công ty X không thực hiện nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ còn nợ là 30.818.059 đồng. Công ty A nhiều lần liên hệ để yêu cầu Công ty X thanh toán tiền nợ, không tự giải quyết được nên Công ty A khởi kiện vụ án yêu cầu Tòa án buộc Công ty X phải thanh toán tiền nợ theo Hợp đồng đã ký kết là 30.818.059 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận và theo quy định.

Tại phiên tòa:

Bà Nguyễn Thu T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, xác nhận vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn Công ty X thanh toán tiền nợ gốc còn lại là 30.818.059 đồng, tiền lãi phát sinh tạm tính từ ngày 19/12/2023 đến ngày 29/8/2024 là 1.291.844 đồng (tiền lãi được tính theo số ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán với mức lãi suất 0,0164% x 255 ngày). Yêu cầu buộc bị đơn thanh toán ngay một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn Công ty X đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không gửi cho Tòa án ý kiến về việc bị công ty A khởi kiện.

- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc xác định người tham gia tố tụng, cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử thực hiện nhiệm vụ đúng theo quy định của pháp luật, đảm bảo đầy đủ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Việc tham gia tố tụng: Nguyên đơn tham gia tố tụng, thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định nên xét xử vắng mặt bị đơn là có cơ sở.

Về yêu cầu của nguyên đơn: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định giữ nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng dịch vụ an toàn lao động tại công trình xây dựng số 18042023/NL-ADR ngày 18/4/2023 về việc cung cấp dịch vụ giám sát an toàn tại công trình xây dựng D, nguyên đơn đã thực hiện hợp đồng, cung cấp hóa đơn, chứng từ thanh toán nhưng bị đơn chưa trả đã làm ảnh hưởng đền quyền lợi chính đáng của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên A khởi kiện Công ty trách nhiệm hữu hạn X tranh chấp hợp đồng dịch vụ đã ký kết, Công ty X có địa chỉ trụ sở tại phường A, thành phố T nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về việc tham gia tố tụng của các đương sự và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:

Nguyên đơn tham gia tố tụng, thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng không đến Tòa án, không gửi ý kiến về việc bị khởi kiện.

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ lời trình bày của đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: giữa nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng dịch vụ an toàn lao động tại công trình xây dựng số 18042023/NL-ADR ngày 18/4/2023 về việc cung cấp dịch vụ giám sát an toàn tại công trình xây dựng D và phát sinh công nợ. Công ty A đã thực hiện hợp đồng, cung cấp hóa đơn, chứng từ thanh toán nhưng Công ty X vẫn chưa thanh toán các khoản nợ từ Hợp đồng đã ký kết đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của Công ty A. Việc Công ty A yêu cầu trả tiền lãi phát sinh là phù hợp với Hợp đồng đã ký kết và quy định tại Điều 306 Luật thương mại. Do đó, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty X phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 3.000.000 đồng. H1 tại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Công ty A .

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 301, 306 Luật kinh doanh thương mại;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn X thanh toán cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên A số tiền nợ tạm tính đến ngày 29/8/2024 là 32.109.903 đồng (Ba mươi hai triệu một trăm lẻ chín ngàn chín trăm lẻ ba đồng) theo Hợp đồng dịch vụ an toàn lao động tại công trình xây dựng số 18042023/NL-ADR ngày 18/4/2023. Trong đó, tiền nợ gốc là 30.818.059 đồng đồng và tiền nợ lãi tạm tính đến hết ngày 29/8/2024 là 1.291.844 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

    Công ty trách nhiệm hữu hạn X phải nộp số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    H1 lại cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên A tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0001498 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

  3. Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với trường hợp vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -Tòa án ND TP.HCM
  • - Viện KSND TP.TD
  • - Chi cục THADS TP.TD
  • - Đương sự
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Thái Thị Cẩm Hiền

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4079/2024/KDTM-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 4079/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: dịch vụ thi công
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger