Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 4075/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/8/2024

V/v Tranh chấp không công nhận

quan hệ vợ chồng, tranh chấp

quyền nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÔ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hương
  2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 568/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp quyền nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5176/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6290/2024/QÐST-HNGĐ ngày 02/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1971 (Có mặt)

Địa chỉ thường trú: 27 Đường A, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

- Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc Thụy Hải Đ, sinh năm 1980 (Vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: Tổ B, ấp S, xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương

Địa chỉ tạm trú: Số G Đường G, Khu phố E (nay là Khu phố C), phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Ngọc T Hải Đường sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2017 nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, ông và bà Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Hai người đã không còn sống chung từ tháng 9/2022 cho đến nay. Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông và bà Đ.

Về con chung: Ông A và bà Đ có 01 người con chung chưa thành niên tên Nguyễn Anh M, sinh ngày 18/12/2020. Hiện con chung đang sống với bà Đ. Ông A yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu bà Đ phải cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp Tòa án tuyên giao con cho bà Đ nuôi thì ông tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 10,000,000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Lý do ông A yêu cầu được nuôi con:

Đ có hành vi cản trở quyền thăm nom và chăm sóc con chung của ông A, cụ thể: Khi ông A đến thăm con tại nhà của bà Đ thì bà Đường K cho ông A vào nhà hoặc đưa con đi nơi khác. Ông A đến trường học thăm con thì bà Đ có hành vi gây khó dễ với ban giám hiệu nhà trường, sau đó còn cho con nghỉ học và đưa con đi làm cùng với bà Đ để ông A không có cơ hội được thăm con. Ông A gửi sữa, quần áo, đồ chơi cho con thì bà Đường K cho con sử dụng.

Về điều kiện vật chất: Bà Đ đang sống ở phòng trọ, công việc làm Đ1 nên thu nhập không ổn định, điều kiện làm việc phức tạp (thường xuyên phải tiếp xúc khách hàng từ 18 giờ đến 22 giờ hoặc muộn hơn).

Đ thường xuyên đe dọa tước đi mạng sống của cháu Nguyễn Anh M trong suốt thời gian từ khi mang thai cho đến thời điểm hiện nay.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: Không có.

* Bà Nguyễn Ngọc Thụy Hải Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia tố tụng tại tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không lấy lời khai của đương sự được.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Ngọc A và bà Nguyễn Ngọc Thụy Hải Đ; giao con chung Nguyễn Anh M, sinh ngày 18/12/2020 cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng; ông A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 10,000,000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được công khai tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[I] Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp trong vụ án là không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp quyền nuôi con. Bị đơn bà Nguyễn Ngọc Thụy Hải Đ có nơi cư trú tại địa chỉ số G Đường G, Khu phố E (nay là Khu phố C), phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyễn Ngọc Thụy Hải Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên toà sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn thì ông A và bà Đ chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017 nhưng cho đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì thời gian chung sống như vợ chồng của ông A, bà Đ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nay ông A yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông A, bà Đ nên căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện trên của ông A.

- Về con chung: Theo tài liệu, chứng cứ mà đương sự nộp thể hiện ông A và bà Đ có 01 người con chung chưa thành niên tên Nguyễn Anh M, sinh ngày 18/12/2020. Hiện con chung đang sống với bà Đ. Ông A yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu bà Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Việc giao con cho ai nuôi cần phải đảm bảo cho sự phát triển tốt mọi mặt của con chưa thành niên. Tại phiên tòa, ông A xác nhận từ thời điểm hai người không còn sống chung, ông A có gửi cấp dưỡng nuôi con nhưng bà Đ đều trả lại. Điều đó thể hiện bà Đ có đủ điều kiện để chăm lo cho con. Ông A có đưa ra những lý do để được trực tiếp nuôi con nhưng đó chỉ là lời trình bày từ một phía, chưa được kiểm chứng. Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập thể hiện ông A có thu nhập ổn định, có đủ điều kiện kinh tế để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy do độ tuổi của con còn nhỏ, trẻ cần sự chăm sóc, yêu thương, gần gũi với mẹ nhiều hơn. Mặt khác, hiện tại trẻ cũng đang sống chung với mẹ, việc thay đổi môi trường sống sẽ làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý của trẻ. Vì những lý do trên, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho bà Nguyễn Ngọc T Hải Đường được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của ông A về việc cấp dưỡng nuôi con 10,000,000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông A xác định không có nên Tòa án không giải quyết quan hệ về tài sản chung, nợ chung.

- Về án phí hôn nhân gia đình: Ông A phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 2 Điều 269, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1/ Về quan hệ hôn nhân:

Tuyên bố không công nhận ông Nguyễn Ngọc A và bà Nguyễn Ngọc Thụy Hải Đ là vợ chồng.

2/ Về con chung: Giao con chung chưa thành niên Nguyễn Anh M, sinh ngày 18/12/2020 cho bà Nguyễn Ngọc T Hải Đường trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Ngọc A về việc cấp dưỡng nuôi con 10,000,000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Trường hợp bà Nguyễn Ngọc Thụy Hải Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Ngọc A không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Sau khi không công nhận quan hệ vợ chồng, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Ngọc A xác định không có nên Tòa án không giải quyết quan hệ về tài sản chung, nợ chung.

4/ Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300,000 đồng, án phí cấp dưỡng nuôi con 300,000 đồng. Tổng số tiền án phí ông Nguyễn Ngọc A phải nộp là 600,000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300,000 đồng ông A đã nộp theo biên lai số 0025664 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Ngọc A phải nộp 300,000 đồng tiền án phí.

5/ Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Ngọc A được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nguyễn Ngọc Thụy Hải Đ được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Viện KSND thành phố Thủ Đức, Tp. HCM;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức, Tp. HCM;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Minh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4075/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp quyền nuôi con

  • Số bản án: 4075/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp quyền nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger