Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4074/2024/KDTM-ST

Ngày: 29/8/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng mua

bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hương
  2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Võ Cao Hùng - Kiểm sát Viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 486/2023/TLST-KDTM ngày 28/11/2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5174/2024/QĐXXST-KDTM ngày 09 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 6293/2024/QĐST-KDTM ngày 02/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn X (Có mặt)

Trụ sở: Số A đường T, tổ B, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc N

- Bị đơn: Công ty Cổ phần T (Vắng mặt)

Trụ sở: Số F đường B, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Bà Hồ Bảo Ngọc D

Địa chỉ: D Đường D, Khu phố F, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quốc N (Có mặt)

Địa chỉ: Số A đường T, tổ B, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà, nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn X có người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Quốc N trình bày:

Ngày 28/6/2022, Công ty Trách nhiệm hữu hạn X (gọi tắt: Công ty X) có ký với Công ty Cổ phần T (gọi tắt: Công ty T) Hợp đồng kinh tế số 2608/2022/HĐKT/DHP-HK. Theo hợp đồng, Công ty X có trách nhiệm khai thác, tiêu thụ hết sản phẩm cát xây dựng mà công ty T1 khai thác lên mặt bằng bãi chứa thuộc khu vực phân trại K6 thuộc địa phận trại giam Z Bộ C.

Để thực hiện hợp đồng, Công ty X đã tạm ứng cho Công ty D1 phát số tiền 1,000,000,000 đồng. Số tiền này sẽ được hai bên cấn trừ vào việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty X. Tại giấy cam kết ngày 26/8/2022, Công ty T xác nhận đã nhận số tiền 1,000,000,000 đồng của Công ty X. Công ty T cam kết sẽ thực hiện việc gia hạn giấy phép nạo vét thành công là 20 ngày, kể từ ngày nhận tiền của Công ty X. Nếu Công ty T không thực hiện thành công được việc gia hạn giấy phép nạo vét thì phải hoàn trả lại số tiền 1,000,000,000 đồng cho Công ty X trong vòng 03 ngày.

Do Công ty T không xin được giấy phép gia hạn thời gian nạo vét nên hợp đồng mà hai bên ký kết không thể thực hiện được. Công ty T đã hoàn trả cho Công ty X số tiền 500,000,000 đồng, hiện còn nợ 500,000,000 đồng. Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu Công ty D2 số tiền còn nợ nhưng công ty không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết của mình. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau:

Buộc Công ty T phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 500,000,000 đồng và tiền lãi chậm trả do vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền 500,000,000 đồng kể từ ngày 01/10/2022 cho đến ngày xét xử với mức lãi suất 10%/năm là: 95,175,333 đồng. Tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán đến ngày xét xử là: 595,175,333 đồng.

* Tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc N trình bày:

Ông N xác nhận số tiền 1,000,000,000 đồng mà ông giao cho Công ty T theo giấy xác nhận ngày 26/8/2022 của Công ty T là tiền của Công ty X, không phải là tiền của cá nhân ông. Vì vậy, ông thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc Công ty T phải thanh toán số tiền còn nợ cho Công ty X. Ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.

* Bị đơn Công ty Cổ phần T đã được Toà án tống đạt hợp lệ để tham gia tố tụng tại Toà án nhưng đều vắng mặt nên Toà án không thể lấy lời khai của công ty được.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Ngoài việc vi phạm về thời hạn xét xử, Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty T phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử là 595,173,333 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được công khai tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, phát sinh giữa hai chủ thể có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Bị đơn có trụ sở tại địa chỉ: Số F đường B, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 30; Điểm b Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Công ty T đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán số tiền 500,000,000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn nộp, có cơ sở để khẳng định giữa nguyên đơn và bị đơn đã phát sinh quan hệ mua bán hàng hóa. Thực hiện Hợp đồng kinh tế số 2608/2022/HĐKT/DHP-HK ngày 26/8/2022, Công ty X đã thanh toán trước cho Công ty T số tiền 1,000,000,000 đồng để thực hiện việc nộp phí gia hạn giấy phép nạo vét tại hồ K thuộc địa phận trại giam Z Bộ C. Việc thanh toán tiền đã được Công ty T xác nhận tại giấy cam kết ngày 26/8/2022. Tuy nhiên, do Công ty T không xin được giấy phép gia hạn thời gian nạo vét nên hợp đồng không thể thực hiện được. Công ty T đã hoàn trả cho Công ty X số tiền 500,000,000 đồng, hiện còn nợ 500,000,000 đồng. Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ là phù hợp theo quy định tại Điều 352 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán tiền lãi chậm trả của số tiền 500,000,000 đồng tương ứng với thời gian chậm trả tính từ ngày 01/10/2022 cho đến ngày xét xử với mức lãi suất 10%/năm là 95,173,333 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tại giấy cam kết do Công ty T lập ngày 26/8/2022 có nội dung: Thời gian thực hiện việc gia hạn giấy phép nạo vét thành công là 20 ngày kể từ ngày nhận tiền. Nếu sau 20 ngày không thực hiện thành công được việc gia hạn giấy phép nạo vét thì Công ty T phải hoàn lại số tiền 1,000,000,000 đồng cho Công ty X trong vòng 03 ngày. Bị đơn không xin gia hạn được giấy phép nạo vét nhưng mới chỉ hoàn trả cho Công ty X số tiền 500,000,000 đồng, hiện còn nợ 500,000,000 đồng. Việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền hàng là căn cứ phát sinh quyền yêu cầu tính lãi chậm trả của nguyên đơn theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2015.

Các bên không thỏa thuận về lãi suất chậm trả trong hợp đồng. Công ty X yêu cầu tính lãi suất chậm trả 10%/năm là thấp hơn mức lãi suất trung bình quá hạn của 03 ngân hàng (gồm: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V – Chi nhánh T2, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V – Chi nhánh T2, Ngân hàng N1 – Chi nhánh T2) mà Tòa án thu thập. Điều đó có lợi cho bị đơn nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào số tiền vi phạm và thời gian chậm trả được tính từ ngày 01/10/2022 cho đến ngày xét xử thì số tiền lãi mà bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là 95,173,333 đồng (500,000,000 đồng x 0,83% x 22 tháng 28 ngày = 95,173,333 đồng).

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 595,173,333 đồng, gồm: Tiền nợ 500,000,000 đồng, tiền lãi chậm trả 95,173,333 đồng.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty T phải chịu án phí sơ thẩm 27,806,933 đồng.

Công ty X được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 30; Điểm b Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 352 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X.

Buộc Công ty Cổ phần T phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn X số tiền nợ 595,173,333 đồng.

Kể từ ngày Công ty Trách nhiệm hữu hạn X có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty Cổ phần T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì hàng tháng Công ty Cổ phần T còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty Cổ phần T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 27,806,933 đồng.

Công ty Trách nhiệm hữu hạn X được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 20,835,425 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000848 ngày 24/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn X, ông Nguyễn Quốc N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Công ty Cổ phần T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện KSND tp. Thủ Đức, Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức, Tp.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Minh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Huỳnh Tiến Dũng

Lê Thị Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4074/2024/KDTM-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 4074/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger