Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 407/2024/DS-PT

Ngày 24 – 9 – 2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Bà Đinh Cẩm Đào

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 309/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 32/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 250/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Hồng N, sinh năm 1972.

Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Hoàng P, sinh năm 1953; Địa chỉ cư trú: Số C, đường H, khóm E, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Văn bản uỷ quyền ngày 09 tháng 9 năm 2024, có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hiền L, sinh năm 1975.

Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Liên Hoàng K, sinh năm: 1997; Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Văn bản uỷ quyền ngày 16 tháng 8 năm 2023, có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Khóm H, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  3. Ông Ngô Minh T, sinh năm 1954 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  5. Ông Ngô Văn K1, sinh năm 1969 (vắng mặt).
  6. Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Hiền L là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Phạm Hồng N trình bày:

Bà có nhận chuyển nhượng phần đất diện tích ngang 43,5 mét, dài 60 mét tính từ lộ lên của ông Ngô Minh T (ấp R, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau) vào ngày 27/10/1999. Khoảng 02 năm sau, ông T tiếp tục chuyển nhượng cho bà thêm phần đất chiều ngang 43,5 mét, dài 60 mét. Hai bên thống nhất viết tờ nhượng đất ngày 27/10/1999 với nội dung: Ông T chuyển nhượng cho bà phần đất diện tích ngang 45 mét, chiều dài 120 mét tính từ lộ lên, ngang (hậu) 31,5 mét.

Đến ngày 02/5/2007 bà được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một phần đất mà bà đã chuyển nhượng nêu trên với diện tích 930m², tọa lạc ấp K, xã T (nay là khóm A, thị trấn R), huyện N, tỉnh Cà Mau, thửa đất số 65A, tờ bản đồ số 14.

Ngày 15/12/2012, ông Ngô Văn K1 có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hiền L phần đất giáp đất của ông. Phần diện tích 12.690m², ngang (mặt tiền) 34,5m tiếp giáp đường H, ngang (mặt hậu) 27m, dài 470m và phần diện tích4.950m², ngang (mặt tiền) 60m tiếp giáp hãng nước đá M, ngang (mặt hậu) 39m, dài 100m. Tổng diện tích là: 17.640m². Có vị trí như sau: Hướng Đông: phía trên giáp phần đất của ông Nguyễn Hoàng K2; phía dưới giáp phần đất ông Nguyễn Văn T1; Hướng Tây giáp phần đất của bà Phạm Hồng N; Hướng Nam giáp hãng nước đá Mỹ An I; Hướng Bắc giáp đường H. Đất thuộc thửa số 74, khoảnh 71, thuộc tiểu khu A.

Cách nay khoảng 02 - 03 năm, ông L làm quyền sử dụng với diện tích chiều dài là 600 mét trong khi ông Lương nhận chuyển nhượng từ ông K1 chiều dài chỉ có 570 mét. Như vậy, chiều dài theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lương dư 30m. Phần chênh lệch này là phần đất mà bà đã nhận chuyển nhượng của ông T. Ông T, ông K1 xác định phần đất dài 30 mét này là phần đất đã chuyển nhượng cho bà trước đây.

Bà có đến gặp ông L để yêu cầu đo đạc lại đúng với diện tích đã chuyển nhượng nhưng ông L không đồng ý. Ông L cho rằng ông được Nhà nước cấp đất cho ông như thế nào thì ông được sử dụng như vậy.

Bà đã đo đạc lại phần đất của bà thì phát hiện bị ông L lấn chiếm phần đất diện tích là 945m², cụ thể như sau:

Hướng Đông giáp phần đất ông Nguyễn Văn T1 cạnh dài 30m;

Hướng Tây giáp phần đất ông Nguyễn Hiền L cạnh dài 30m;

Hướng Nam giáp phần đất ông Nguyễn Hiền L cạnh dài 31,5m;

Hướng Bắc giáp phần đất của tôi cạnh dài 31,5m.

Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L trả cho bà phần đất diện tích 945m², tọa lạc tại khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau. Phần đất này hiện nay trị giá 300.000.000 đồng.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Liên Hoàng K trình bày:

Ông L đã nhận chuyển nhượng đất của ông T và ông K1 vào ngày 15/12/2012 cụ thể như sau:

Phần đất thứ nhất: Diện tích 12.690m², ngang tiền 34,5m tiếp giáp đường H, hậu 27,0m, dài 470m. Phần đất thứ hai: Diện tích 4.950m², ngang tiền 60m tiếp giáp Hãng nước đá Mỹ An I, hậu 39m, dài 100m. Tổng diện tích 17.640m².

Vị trí khu đất: Hướng đông phía trên giáp đất Nguyễn Hoàng K2Nguyễn Văn T1; Hướng tây giáp đất Phạm Hồng N; Hướng nam giáp Hãng nước đá Mỹ An I; Hướng bắc giáp đường H.

Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 200.000.000 đồng, ông L đã trả đủ tiền một lần bằng tiền mặt.

Ông L đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/10/2020, phần đất diện tích 20.878,4m² tọa lạc tại khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Ông L không đồng ý trả phần đất diện tích 945m², tọa lạc tại khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau cho bà N.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Minh T trình bày:

Vào ngày 27/10/1999, ông có làm giấy sang cho bà N phần đất chiều ngang tiền giáp lộ xi măng 45m, chiều ngang mặt hậu 31,5m, chiều dài 120m, số tiền 50.000.000 đồng, đất tọa lạc tại khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau. Ông đã bàn giao đất cho bà N, sau đó bà N có xây dựng hàng rào bao chu vi đất có chiều dài 90m; phần còn lại 30m là đất ao, trũng để nguyên không xây dựng, đất này hiện đang tranh chấp với ông L. Đối với phần đất ông K1 sang cho ông L chiều dài từ lộ Hồ Chí Minh trở vô tiếp giáp đất tranh chấp giữa bà N với ông L là 570 mét x chiều ngang hết đất. Nay tôi xác định phần đất tranh chấp diện tích 925,3m² là của bà N.

- Ý kiến Ủy ban nhân dân huyện N: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ ông T và ông K1 để lại, sau đó ông T và ông K1 có thực hiện việc chuyển nhượng cho bà N 01 phần và chuyển nhượng cho ông L 01 phần. Theo hồ sơ lưu trữ thể hiện phần đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L thuộc thửa số 615, tờ bản đồ số 14, số giấy chứng nhận CP229851, số vào sổ GCN: CH01459, do Ủy ban nhân dân huyện N ký ngày 14/9/2020. Nay đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 32/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau quyết định:

Tuyên xử:

Chấp yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Hồng N đối với ông Nguyễn Hiền L.

Buộc ông Nguyễn Hiền L phải trả lại cho bà Phạm Hồng N phần đất có vị trí, diện tích M1, M2 = 30,84m; M2, M3 = 30,13m; M3, M4 = 30,85; M4, M1 = 29,92m. Tổng diện tích = 925,3m². Tọa lạc tại khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Phạm Hồng N có quyền liên hệ với Cơ quan có chức năng để thực hiện việc kê khai, đăng ký làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng theo quy định của pháp luật.

(Theo bản vẽ hiện trạng ngày 08/5/2023 của Công ty P1).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 07/8/2024, ông Nguyễn Hiền L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hiền L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phần tranh luận tại phiên toà:

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn tranh luận: Tờ sang nhượng đất của ông T cho bà N không có công chứng, chứng thực. Trong khi nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp đúng quy định. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tranh luận: Hợp đồng chuyển nhượng của bà N chưa thỏa mãn về hình thức nhưng được ông T xác nhận. Ông T xác định có chuyển nhượng cho bà N 120m chiều dài. Bà N chỉ xây tường rào bao bọc chu vi dài 90m, ngang hết đất và chừa ngoài hàng rào xây 30m. Do 30m còn lại là đất ao trũng đất hoang hóa, không có khả năng sản xuất nên chưa sử dụng và bao khuôn viên đất để trồng cây và có thời gian đi nước ngoài nên xây bảo vệ đất. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông L với ông K1 dài 570m nhưng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dài 600m là dư 30m. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông L. Giữ y bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hiền L. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 32/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của ông Nguyễn Hiền L, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Phần đất tranh chấp có diện tích 925,3m² thuộc thửa 121 tờ bản đồ số 14, toạ lạc tại khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau (Bản đồ chỉnh lý năm 2012) và ông Nguyễn Hiền L đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 14 tháng 9 năm 2020 tại thửa 615, tờ bản đồ số 14.

[2] Bà Phạm Hồng N cho rằng vào ngày 27 tháng 10 năm 1999, ông Ngô Minh T có chuyển nhượng cho bà N phần đất ngang 43,5m, dài 60m. Hai năm sau, ông T có chuyển nhượng cho bà N phần đất ngang 43,5m, dài 60m nhưng hai bên thống nhất cộng chung hai lần chuyển nhượng để viết lại “Tờ nhượng đất” ghi lại ngày 27 tháng 10 năm 1999 chuyển nhượng phần đất ngang tiền 45m, ngang hậu 31,5m, dài 120m. Xét thấy, hai tờ nhượng đất trên là giấy viết tay do bà N và ông T tự lập không có công chứng, chứng thực, không được chính quyền địa phương và tứ cận chứng kiến. Đến năm 2007, bà N tự đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 930m² thuộc thửa số 65A, tờ bản đồ số 14. Như vậy, phần đất bà N nhận chuyển nhượng từ ông T đã được cấp giấy chứng nhận diện tích 930m².

[3] Ông Lương nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Ngô Văn K1 tại Hợp đồng chuyển nhượng đất (TQLĐ) được Ủy ban nhân dân thị trấn R, huyện N chứng thực ngày 21 tháng 12 năm 2012 diện tích 17.640m² có ông K1, ông T cùng ký tên, ông L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 621, tờ bản đồ số 14 diện tích 20.878,4m² và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L có diện tích 5.716,5m² thuộc thửa số 615, tờ bản đồ số 14 thể hiện: Tại “Tờ Trình” số 115/TTr-TN&MT ngày 08 tháng 9 năm 2020 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện N về việc công nhận sử dụng đất rừng sản xuất cho ông Nguyễn Hiền L, có Đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được xác nhận bởi Ủy ban nhân dân thị trấn R, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N có ý kiến đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định và được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân thị trấn R, niêm yết ngày 31 tháng 8 năm 2020, các mốc giới giao đất đều có cặm trụ đá (bút lục số 296 - 298).

[4] Xét quá trình sử dụng đất, phần đất của bà N sử dụng không tranh chấp, có bao bọc khuôn viên bằng hàng rào xây gạch. Phần đất tranh chấp nằm ngoài hàng rào bao bọc đất của nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thừa nhận không có sử dụng đất này mà để trống. Nguyên đơn cho rằng xây hàng rào chừa lại phần đất ngoài hàng rào vì là ao đìa, đất hoang hoá, không sử dụng được là không có cơ sở. Bởi lẽ, phần diện tích đất hiện nay nguyên đơn thực tế đang sử dụng có diện tích 3.474m² nhiều hơn diện tích đất nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, nguyên đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2007, trong khi bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2020 là được cấp sau nguyên đơn 13 năm nên bị đơn không thể làm giấy chứng nhận lấn chiếm đất của nguyên đơn được.

[5] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hiền L. Sửa bản án sơ thẩm số: 32/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

[6] Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 27.754.000 đồng; chi phí sao lục hồ sơ 300.000 đồng. Do cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng trên. Nguyên đơn đã dự nộp 27.754.000 đồng, bị đơn đã nộp xong số tiền 300.000 đồng nên nguyên đơn phải hoàn trả cho bị đơn 300.000 đồng.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà N phải chịu số tiền là 61.577.500 đồng. Bà N đã dự nộp, được đối trừ.

[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lương không phải chịu án phí. Ông L đã dự nộp, được nhận lại.

[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hiền L.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 32/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Không chấp yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Hồng N về việc yêu cầu ông Nguyễn Hiền L trả cho bà Phạm Hồng N phần đất (M1M2M3M4) được ký hiệu thửa số 1 có diện tích 925,3m², tọa lạc tại khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau.

    (Kèm theo Bản vẽ hiện trạng ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Công ty TNHH P1).

  2. Chi phí tố tụng: Bà Phạm Hồng N phải chịu số tiền 28.054.000 đồng (đã nộp xong 27.754.000 đồng); bà N phải hoàn trả cho ông Nguyễn Hiền L số tiền 300.000 đồng.
  3. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Phạm Hồng N phải chịu số tiền là 61.577.500 đồng. Ngày 01 tháng 3 năm 2023, bà N có nộp tạm ứng án phí số tiền 7.500.000 đồng theo biên lai thu số 0020341 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển, được đối trừ. Bà N phải nộp tiếp số tiền 54.077.500 đồng.
  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Hiền L không phải chịu án phí. Ngày 07 tháng 8 năm 2024, ông L có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0015112 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển, được nhận lại.
  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển;
  • - Chi cục THADS huyện Ngọc Hiển;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 407/2024/DS-PT ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 407/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L trả cho bà phần đất diện tích 945m2, tọa lạc tại khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau. Phần đất này hiện nay trị giá 300.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger