|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 407/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12/9/2024
V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình”
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hải;
- Bà Nguyễn Thị Xuân Hương;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thế Tài – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 261/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/8/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 86/2024/QĐST-HPt ngày 27/8/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1990; (Có mặt)
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1990; (Vắng mặt)
- Cùng HKTT: thôn M, xã V, huyện H, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn xin ly hôn ngày 23/2/2024 và lời khai trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị K trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn B lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 04/01/2010 tại UBND xã V, huyện H, Hà Nội trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Đây là lần kết hôn đầu tiên của chị và anh B.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại thôn M, xã V, huyện H, Hà Nội, là nhà của anh B. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do kinh tế, anh B không có công ăn việc làm chơi cờ bạc nợ nần nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Năm 2011, anh B đuổi chị và con xuống nhà bố mẹ đẻ chị và bắt chị phải ký bán nhà, chị không đồng ý thì anh B bắt con đi, không cho ở cùng để ép ký giấy nên chị đã phải ký giấy để anh B bán nhà trả nợ. Sau khi bán nhà, chị và con ở cùng bố mẹ chị ở thôn P, xã V, còn anh B ở đâu thì chị không rõ. Chị và anh B chỉ trao đổi với nhau qua điện thoại. Thỉnh thoảng anh B có về thăm con nhưng không ở lại mà đi luôn trong ngày. Năm 2018 chị nộp đơn xin ly hôn ra TAND huyện Hoài Đức và gọi cho anh B lên Toà giải quyết nhưng anh B không lên, do vậy mà chị phải rút đơn xin ly hôn. Toà án đã đình chỉ giải quyết vụ án theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 137 ngày 26/10/2018. Sau đó chị cũng nhiều lần liên lạc gọi anh B về để giải quyết ly hôn nhưng anh B không về. Do trốn nợ nên anh B thường xuyên thay đổi chỗ ở, không cung cấp địa chỉ cụ thể nên chị không biết được hiện anh B đang ở đâu. Mẹ anh B chết từ năm 1998, sau khi mẹ mất thì anh B ở với bà ngoại, năm 2008 thì bà ngoại mất. Anh B không có bố.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.
Về con chung, chị và anh B có 01 con chung là Nguyễn Văn T, sinh ngày 16/6/2009, hiện con chung đang sống cùng chị, sức khoẻ bình thường. Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị đang làm tại Công ty TNHH D, thu nhập khoảng 07 triệu đồng/tháng.
Về tài sản và nhà ở chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã thông báo, đăng phát tin trên phương tiện thông tin đại chúng về việc Toà án giải quyết vụ án và triệu tập bị đơn – anh Nguyễn Văn B lên Tòa để lấy lời khai nhưng anh B không có mặt, vì vậy Tòa án không lấy được lời khai của anh B.
Tại phiên tòa:
- - Chị K vẫn giữ nguyện vọng xin ly hôn, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay. Về con chung, tài sản chung, nhà ở chung, công nợ chị vẫn giữ nguyện vọng như đã trình bày. Ngoài ra chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức phát biểu ý kiến:
- + Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng, thực hiện đúng quy định về thủ tục lấy lời khai, tiến hành công khai chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác. Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng quy định, đảm bảo thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện và xét xử theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K. Về con chung: chấp nhận yêu cầu của chị K được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh B. Về tài sản chung, nhà ở chung, về công nợ, chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về án phí, chị K phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Tại Đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị K thể hiện bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã V, huyện H, Hà Nội. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân gia đình trên là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
2.1. Về hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị K và anh Nguyễn Văn B lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 04/01/2010 tại UBND xã V, huyện H, Hà Nội, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện Hoài Đức đã thông báo việc Toà án giải quyết vụ án được đăng trên B1 ngày 23, 24, 25/7/2024 và trên Đài phát thanh VOV2 trong các ngày 22, 23, 24/7/2024. Tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng là Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc lấy lời khai và giao nộp chứng cứ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự. Quá trình giải quyết vụ án, chỉ có chị K có mặt, anh B không đến Tòa và không nộp (gửi) cho Toà án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị K và cũng không gửi cho Toà án tài liệu, chứng cứ bảo vệ cho quyền lợi của mình. Do vậy, Toà án không lấy được lời khai của anh B nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét ý kiến của anh B.
Qua các tài liệu có trong hồ sơ và tài liệu do Toà án thu thập tại địa phương nơi chị K, anh B chung sống thể hiện: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn M, xã V, huyện H, Hà Nội. Từ khoảng năm 2011 anh B bỏ nhà đi đâu, làm gì địa phương không biết. Cung cấp của chính quyền địa phương cũng phù hợp với lời khai của chị K.
Xét thấy, năm 2010 anh chị kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian rất ngắn, từ năm 2011, anh chị đã phát sinh mâu thuẫn và anh B bỏ đi, kể từ đó anh chị không còn duy trì cuộc sống chung, không quan tâm, chăm sóc nhau, chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại. Anh B thỉnh thoảng có về địa phương thăm con sau đó lại đi, không cung cấp địa chỉ nơi ở cho chị K. Năm 2018 chị K nộp đơn xin ly hôn tại TAND huyện Hoài Đức nhưng do anh B không lên Toà giải quyết nên chị K đã rút yêu cầu xin ly hôn. Tuy nhiên, kể từ thời điểm đó tình trạng hôn nhân của anh chị không được thay đổi, chị K xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, chị có nguyện vọng xin ly hôn anh B để được ổn định cuộc sống.
Có thể thấy, anh chị kết hôn từ năm 2010 thì đến năm 2011 đã phát sinh mâu thuẫn và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, mối quan hệ hôn nhân giữa anh chị không có sự gắn kết, sẻ chia, giúp đỡ nhau, điều đó thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, chị K xin ly hôn anh B là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.2. Về con chung:
Chị K xác nhận chị và anh B có 01 con chung là Nguyễn Văn T, sinh ngày 16/6/2009, hiện con chung đang sống cùng chị, sức khoẻ bình thường. Chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị đang làm tại Công ty TNHH D, thu nhập khoảng 07 triệu đồng/tháng.
Xét, việc giao con chưa thành niên cho ai nuôi dưỡng khi ly hôn cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Từ năm 2011 anh B bỏ đi, chị K là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Quá trình nuôi dưỡng con chung phát triển bình thường. Chị K có thu nhập và nơi ở ổn định. Ngoài ra, cháu T cũng có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Do vậy, Hội đồng xét xử giao con chung cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị K không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung. Do vậy, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh B là phù hợp với quy định pháp luật.
Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
2.3. Về tài sản chung, nhà ở chung: Chị K không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xét.
2.4. Về công nợ: Chị K xác nhận không nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Anh B không có ý kiến về tài sản, nhà ở và công nợ của vợ chồng do vậy không có cơ sở xem xét. Giành quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác về tài sản, nhà ở và những yêu cầu khác cho anh B khi có đơn yêu cầu.
2.5. Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị K phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.
Chị K, anh B có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1.1 phần II mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị K đối với anh Nguyễn Văn B. Chị K được ly hôn anh B.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị K và anh Nguyễn Văn B có 01 con chung là Nguyễn Văn T, sinh ngày 16/6/2009. Giao cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, kể từ thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh B kể từ thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nhà ở chung: Chị K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về công nợ: Chị K xác nhận không nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Giành quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác về tài sản, nhà ở và những yêu cầu khác cho anh B khi có đơn yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005821 ngày 25/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Nguyễn Thị K, vắng mặt anh Nguyễn Văn B. Chị K có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh B có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Lan Anh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 407/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 407/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
