Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 407/2024/HS-ST

Ngày: 25/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm

Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lục Thanh Thủy

Ông Lê Văn Bình

Ông Chu Quang Tiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Trung Kiên, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 223/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 381/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Anh T, sinh năm 1995.

ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Phạm Thị L; có vợ Nguyễn Thị B và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa chấp hành án);

Bị bắt, tạm giam từ ngày 08/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa;

D chỉ bản số [...] lập ngày 11/9/2023 tại Công an huyện S, thành phố Hà Nội.

* Người bào chữa cho bị cáo Trần Anh T: Ông Nguyễn Ánh T2 và bà Nguyễn Thị H, Luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; bà H vắng mặt, ông T2 có mặt tại phiên tòa;

* Bị hại: Anh Ngô Văn B1, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa;

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa;

- Anh Phạm Thanh Đ, sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện S, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa;

- Ông Đào Thế B2, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa;

- Anh Lê Văn T4, sinh năm 1986 và chị Trần Thị Phương T5, sinh năm 1985; cùng trú tại: Thôn S, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa;

- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1969 và bà Phan Thị Bích H1, sinh năm 1973; cùng trú tại: Thôn M, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội; ông N vắng mặt, bà H1 có mặt tại phiên tòa,

- Anh Nguyễn Đức H2, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 02/2022 Trần Anh T làm môi giới mua bán đất và tham gia hội nhóm môi giới đất trên mạng xã hội Facebook. Quá trình làm môi giới đất T có quen biết anh Ngô Văn B1 (sinh năm: 1992; Trú tại: Thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội). Do biết anh B1 có nhu cầu mua bán đất nên T đã giới thiệu cho anh B1 các thửa đất số: 14-2, 14-3, 14-5 tờ bản đồ số 19 tại thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội và thửa đất số 82-2 tại thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội. T đưa ra thông tin gian dối là các chủ đất trên ủy quyền cho T môi giới bán đất và nhận tiền đặt cọc, đồng thời T gửi ảnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất trên qua ứng dụng Zalo để anh B1 xem. Tin tưởng T nên anh B1 đồng ý mua 04 thửa đất trên và đặt cọc cụ thể như sau:

- Ngày 06/3/2022, anh B1 đặt cọc 150.000.000 đồng cho T để mua thửa đất 14-5, tờ bản đồ số 19, diện tích chuyển nhượng là 300m² với giá 600.000.000 đồng. Anh B1 đã chuyển khoản số tiền nêu trên từ tài khoản ngân hàng T7 số 2838485868 của anh B1 đến tài khoản ngân hàng A1 số 3160205698480 của T (có giấy viết tay việc đặt cọc).

- Ngày 09/3/2022, anh B1 đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng cho T để mua thửa số 14-2, 14-3, tờ bản đồ số 19, diện tích mỗi thửa là 360m² với giá 1.286.000.000 đồng. Anh B1 đã chuyển khoản số tiền nêu trên từ tài khoản ngân hàng T7 số 2838485868 của anh B1 đến tài khoản ngân hàng V số [...] của T (có giấy tờ viết tay việc đặt cọc).

- Trong các ngày 13/3, 14/3 và 19/3/2022, anh B1 đặt cọc tổng số tiền 400.000.000 đồng cho T để mua thửa đất số 82-2, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.452m² với giá 3.500.000.000 đồng. Anh B1 đã chuyển khoản số tiền nêu trên từ tài khoản ngân hàng T7 số 2838485868 của anh B1 đến tài khoản ngân hàng V số [...] của T (có giấy tờ viết tay việc đặt cọc).

Tổng số tiền anh B1 đã chuyển khoản cho T để mua 04 thửa đất trên là 850.000.000 đồng.

Sau khi nhận tiền, T không liên hệ với chủ đất để thực hiện giao dịch mà chiếm đoạt 850.000.000 đồng để sử dụng chi tiêu cá nhân hết số tiền này. Sau đó, anh B1 phát hiện T nhận đặt cọc khi chưa được sự đồng ý của chủ đất, không thanh toán tiền cho chủ đất nên đã nhiều lần liên hệ yêu cầu T trả tiền, tuy nhiên T không trả. Do đó, ngày 09/5/2023 anh B1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện S, thành phố Hà Nội để trình báo sự việc.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định:

- Đối với thửa đất số 82-2, tờ bản đồ số 10 tại thôn P, xã B huyện S, thành phố Hà Nội: Thửa đất tên đứng tên ông Đào Thế B2 (sinh năm 1970; trú tại: Thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội). Ngày 14/3/2023, thông qua việc môi giới của T, ông B2 đã bán thửa đất trên cho anh Lê Văn T4 (sinh năm 1986) và vợ là chị Trần Thị Phương T5 (sinh năm 1985), cùng trú tại thôn S, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Việc T và anh B1 giao dịch đặt cọc như thế nào thì ông B2, anh T4 và chị T5 không biết và không liên quan. Hiện nay thửa đất trên chị T5 đã bán cho người khác, việc mua bán không liên quan gì đến T.

- Đối với thửa đất số 14-2, 14-3 tờ bản đồ số 19 tại Thôn P, xã B, huyện S, Hà Nội: 02 thửa đất trên đứng tên ông Nguyễn Văn N (sinh năm 1969) và vợ là bà Phan Thị Bích H1 (sinh năm 1973), cùng trú tại: Thôn M, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Gia đình ông N không bán 02 thửa đất trên cho ai, không quen biết ai là Trần Anh T. Việc T nhận tiền đặt cọc của anh Ngô Văn B1 như thế nào thì ông N, bà H1 không biết và không liên quan. Hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 14-2, 14-3 tờ bản đồ số 19 trên đang được thế chấp tại Ngân hàng A1 chi nhánh N1.

- Đối với thửa đất số 14-5, tờ bản đồ 19 tại thôn P, xã B, huyện S, Hà Nội: Thửa đất trên đứng tên ông Nguyễn Đức H2 (sinh năm 1977; trú tại: Thôn Đ, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội). Ông H2 không mua bán giao dịch thửa đất trên, không biết ai là Trần Anh T. Việc T nhận tiền đặt cọc của anh Ngô Văn B1 như thế nào thì ông H2 không biết và không liên quan. Hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 14-5 tờ bản đồ số 19 trên đang được thế chấp tại Ngân hàng A1 chi nhánh N1.

Tại Cơ quan điều tra Trần Anh T khai nhận hành vi phạm tội của mình, những người liên quan, người làm chứng và bị hại khai nhận phù hợp với nội dung vụ án nên trên. Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng của Trần Anh T và anh Ngô Văn B1 phù hợp với nội dung vụ án như trên.

Ngày 18/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S đã ra quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên 03 hợp đồng đặt cọc ngày 06/3/2022, ngày 09/3/2022 và ngày 17/3/2022. Tại Bản kết luận giám định số 7680 ngày 08/11/2023 của V1 - Bộ C kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên Trần Anh T dưới mục “Đại diện bên A” trên các hợp đồng đặt cọc ở trên là chữ ký, chữ viết của T. Chữ ký, chữ viết đứng tên đứng tên Ngô Văn B1 dưới mục “Đại diện bên B” trên các hợp đồng đặt cọc ở trên là chữ ký, chữ viết của anh B1.

Về dân sự, anh Ngô Văn B1 yêu cầu Trần Anh T bồi thường số tiền 850.000.000 đồng.

Cáo trạng số 208/CT-VKS-P3 ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Anh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Bị hại anh Ngô Văn B1 khai nhận bị Trần A T sử dụng thủ đoạn để lừa đảo chiếm đoạt tài sản đúng với nội dung như cáo trạng đã xác định. Anh B1 yêu cầu bị cáo Trần Anh T bồi thường số tiền 850.000.000 đồng và đề nghị Tòa án xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội cho rằng: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên toà có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Anh T từ 12 - 13 năm tù. Tổng hợp với mức hình phạt 42 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là từ 15 năm 06 tháng - 16 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/9/2023, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2022 đến ngày 11/8/2022.

Về hình phạt bổ sung: xét tính chất phạm tội và hoàn cảnh gia đình của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 850.000.000 đồng.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Anh T nhất trí với quan điểm truy tố về tội danh mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố đối với bị cáo. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trần A Thắng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Người làm chứng anh Nguyễn Văn T3, anh Phạm Thanh Đ, ông Đào Thế B2, ông Nguyễn Văn N và anh Nguyễn Đức H2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy anh T3, anh Đ, ông B2, ông N và anh H2 đã có lời khai trong quá trình điều tra, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]Tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Do cần tiền chi tiêu cá nhân, Trần Anh T đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bằng cách đưa ra thông tin gian dối về việc được các chủ đất ủy quyền bán đất và nhận tiền đặt cọc của các thửa đất số: 14-2, 14-3, 14-5 tờ bản đồ số 19 tại thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội và thửa đất số 82-2 tại thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội. Tin tưởng T nên anh Ngô Văn B1 đã chuyển khoản tổng cộng 850.000.000 đồng cho T để đặt cọc mua 04 thửa đất nêu trên. Sau khi nhận tiền, T không liên hệ với chủ đất để thực hiện giao dịch mà chiếm đoạt 850.000.000 đồng sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Hành vi của bị cáo Trần Anh T đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định Cáo trạng số 208/CT-VKS-P3 ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh để trừng trị, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong đời sống xã hội.

Ngày 31/8/2023, bị cáo Trần Anh T bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tuy không bị xem xét là tái phạm nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu và có ý thức coi thường pháp luật.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, cải tạo đối với bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng chống tội phạm.

[5]Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất vụ án và hoàn cảnh gia đình của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Trần Anh T bồi thường số tiền 850.000.000 đồng cho bị hại anh Ngô Văn B1.

[7]Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Trần Anh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

    Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự

    Xử phạt bị cáo Trần Anh T 13 (Mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp với mức hình phạt 42 (Bốn mươi hai) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 16 (Mười sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/9/2023, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2022 đến ngày 11/8/2022.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự:

    Buộc bị cáo Trần Anh T bồi thường số tiền 850.000.000 (Tám trăm năm mươi triệu) đồng cho bị hại anh Ngô Văn B1.

    Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi suất phát sinh trên số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Anh T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 37.500.000 (Ba mươi bảy triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Trần Anh T, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 25/7/2024.

Nơi nhận:

  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - THADS thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 407/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 407/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do cần tiền chi tiêu cá nhân, Trần Anh T đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bằng cách đưa ra thông tin gian dối về việc được các chủ đất ủy quyền bán đất và nhận tiền đặt cọc của các thửa đất số: 14-2, 14-3, 14-5 tờ bản đồ số 19 tại thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội và thửa đất số 82-2 tại thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội. Tin tưởng T nên anh Ngô Văn B1 đã chuyển khoản tổng cộng 850.000.000 đồng cho T để đặt cọc mua 04 thửa đất nêu trên. Sau khi nhận tiền, T không liên hệ với chủ đất để thực hiện giao dịch mà chiếm đoạt 850.000.000 đồng sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger