|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 407/2024/HS-ST Ngày: 12/12/2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bạch Phượng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Phùng, ông Nguyễn Văn Lương.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân quận Đống Đa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tạ Hà Giang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 416/2024/TLST - HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 399/2024/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Thị Vân A, sinh ngày 17 tháng 12 năm 1981 tại: Phú Thọ; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: Xã P, huyện P, tỉnh P; Nơi cư trú: Số G ngõ C K, phường T, quận Đ, thành phố H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Hà Hữu P; Con bà: Nguyễn Thị Minh K; Chồng: Lê C; Có 03 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2017).
Tiền án, tiền sự: Không.
D chỉ bản số [...] do Công an quận Đ lập ngày 10/9/2024.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/02/2024, trả tự do ngày 18/02/2024. Hiện bị cáo tại ngoại áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trứ”. Có mặt tại phiên tòa.
*Bị hại: Chị Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT:
số G ngõ H C, phường T, quận Đ, H nghỉ ngơi.
Tối ngày 15/02/2022, Vân A thông báo cho chị H biết việc chị T đang ở nhà mình, đồng thời nói cho chị N biết việc T có dấu hiệu chiếm đoạt tiền của mọi người. Khoảng 7 giờ sáng ngày 16/02/2022, chị H lập nhóm zalo “lừa đảo” gồm: Vân A, H, T2, T1. Cả nhóm thống nhất sẽ gặp chị T tại quán M để xác nhận lại số tiền mà T đã vay của mọi người và yêu cầu chị T giải trình rõ việc sử dụng số tiền đã vay vào mục đích gì, phương án trả lại tiền cho mọi người, sau đó sẽ đưa chị T đến Cơ quan Công an tố giác.
Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 16/02/2022, anh T2 và chị H đến quán M tại địa chỉ số I K, Đ, Hà Nội đợi T. Lúc này Vân A yêu cầu T mang vali đi ra khỏi nhà và bảo đến quán M để gặp chị N nhưng thực tế là để gặp chị H và anh T2. Tại đây, T ngồi nói chuyện với H, T2 và Vân A. Vân A yêu cầu T giải trình rõ việc sử dụng số tiền đã vay của mọi người vào mục đích gì, nhưng T không trả lời. Do bực tức Vân A dùng tay tát một cái vào mặt của T thì T2 và H can ngăn. Thấy ồn ào, anh Đinh Văn H1 (sinh năm: 1981; trú tại: T, P, T) là chủ quán Mộc T3 đến căn ngăn và yêu cầu mọi người đi lên trên tầng 2 của quán nói chuyện để tránh gây ồn áo cho khách. Sau khi lên tầng 2, Vân A, H, T2 yêu cầu T cung cấp các thông tin liên quan đến đối tác kinh doanh mà T đã chuyển tiền để kiểm tra nhưng T không cung cấp và có thái độ không hợp tác. Vân A giơ tay lên dọa đánh T nhưng được T2, H can ngăn. T2, H, Vân A yêu cầu T viết giấy thống kê tất cả những khoản tiền đã vay của mọi người và phải có phương án trả lại số tiền đã vay. T đồng ý viết theo yêu cầu của mọi người, sau khi viết xong thì Vân A hỏi T về việc đáo hạn thẻ ngân hàng và thanh toán tiền trả góp mua điện thoại thì T trả lời đến hạn thì sẽ đáo thẻ, thấy vậy Vân A tự ý lấy chiếc điện thoại S của chị T và nói “Tao giữ điện thoại của mày, bao giờ mày đáo hạn thẻ ngân hàng và trả tiền trả góp xong thì tao trả” rồi tháo sim trả lại cho chị T. T có xin Vân A trả lại điện thoại để làm việc tuy nhiên Vân A vẫn lấy chiếc điện thoại Samsung trái ý muốn của chị T. Do Vân A không trả lại điện thoại, chị T có yêu cầu Vân A viết giấy xác nhận cầm điện thoại của mình thì Vân A đồng ý và tự viết giấy có nội dung giữ điện thoại làm tín chấp cho việc thanh toán tiền mua điện thoại và đáo hạn thẻ ngân hàng của T, Sau đó H đưa T đến Công an phường T để tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị T. Công an phường T đã hướng dẫn chị H và chị T đến Công an phường K để được giải quyết. Tại Cơ quan Công an, khi Cơ quan Công an yêu cầu, Vân A đã giao nộp chiếc điện thoại S đã chiếm đoạt của chị T.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an quận Đ đã tạm giữ:
- - 01 chiếc điện thoại Samsung màu đen, do Hà Thị Vân A giao nộp.
- - 01 USB chứa 01 file video liên quan đến vụ án.
Tại cơ quan điều tra Vân A khai: Mục đích lấy điện thoại Samsung của chị T là để bắt chị T phải thanh toán tiền trả góp điện thoại và đáo hạn thẻ ngân hàng cho Vân A (do hàng tháng Vân A phải trả tiền trả góp điện thoại và tiền đáo hạn thẻ ngân hàng cho khoản vay của chị T) và giao nộp cho Cơ quan Công an để tố giác T. Tuy nhiên cơ quan điều tra đã làm rõ Vân A có ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị T mang đi cầm cố. Cơ quan điều tra đã thu giữ được đoạn tin nhắn của Vân A và chị N vào chiều ngày 16/02/2022 thể hiện việc Vân A giữ điện thoại làm thế chấp đáo thẻ ngân hàng. Thực tế Vân A đã lấy điện thoại Samsung của chị T mặc dù chị T không đồng ý. Chỉ khi Cơ quan Công an làm việc với Vân A và yêu cầu giao nộp chiếc điện thoại Samsung thì Vân A mới giao nộp.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 106/BB-HĐĐGTS ngày 15/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản quận Đ kết luận: 01 chiếc điện thoại Samsung màu đen, mặt vỏ phía sau có dòng chữ imei: 3505382875228347 định giá 1.550.000 đồng.
Đối với Trần Thị N, mặc dù Vân A có nhắn tin cho chị N về ý định lấy điện thoại của T đi cầm cố, tuy nhiên chị N không biết việc Vân A có hành vi đánh, đe dọa, chửi bới chị T để lấy điện thoại, do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với Nguyễn Thị H, Đoàn Văn T2, Nguyễn Thị T1 quá trình điều tra xác định không đồng phạm với Hà Thị Vân A nên không đề cập xử lý.
Đối với việc chị T đã vay tiền của chị H, anh T2 và Vân A, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã thụ lý tố giác tin B để xác minh đơn, giải quyết theo thẩm quyền.
Về xử lý vật chứng:
Chiếc điện thoại S màu đen, xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Mỹ T. Ngày 10/10/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ T.
Chị Nguyễn Thị Mỹ T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị bồi thường trong vụ án.
Tại bản cáo trạng số 422/CT-VKSĐĐ ngày 19/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố Hà Thị Vân A về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Hà Thị Vân A khai nhận hành vi như bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa giữ quyền công tố sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Thị Vân A mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 24 đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Mỹ T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì khác nên không xét.
Về vật chứng vụ án: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, qua xét hỏi, bị cáo Hà Thị Vân A đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 16/02/2022 tại tầng 2 của quán M, địa chỉ số I K, Đ, Hà Nội, Hà Thị Vân A có hành vi chửi bới, đe dọa chị Nguyễn Thị Mỹ T sau đó chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Samsung trị giá 1.550.000 đồng (Một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) của chị T. Như vậy, hành vi của bị cáo Hà Thị Vân A đã phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp về quyền bảo hộ về nhân thân, quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, xuất phát từ việc người bị hại chị Nguyễn Thị Mỹ T có nợ tiền một số người và trong đó có bị cáo. Lẽ ra bị cáo phải bình tĩnh xử lý vụ việc như: Có thể khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự hoặc làm đơn tố giác tội phạm đối với T, song bị cáo lại có hành vi uy hiếp tinh thần (chửi bới, đe dọa) người bị hại và chiếm đoạt 01 điện thoại trị giá 1.550.000 đồng. Như vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và làm bài học ngăn ngừa tội phạm nói chung.
Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được xem xét khi lượng hình: Chưa tiền án, tiền sự; Khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn (tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại); Bị cáo có gia cảnh khó khăn (một mình nuôi 03 con nhỏ). Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và điều luật quy định, Hội đồng xét xử thấy: Chưa cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo mà cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước, được cải tại ngoài xã hội với thời gian thử thách nhất định cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo. Xét xử bị cáo mức án như Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn thỏa đáng.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có gia cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 170 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hai chị Nguyễn Thị Mỹ T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì khác nên không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Không.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và cùng với người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hà Thị Vân A phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hà Thị Vân A 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Hà Thị Vân A về Ủy ban nhân dân phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trường hợp bị cáo Hà Thị Vân A thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Hà Thị Vân A cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Hà Thị Vân A phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về trách nhiệm dân sự, vật chứng vụ án: Không.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Bạch Phượng |
Bản án số 407/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (cưỡng đoạt tài sản)
- Số bản án: 407/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cưỡng đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Hà Thị Vân A phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản"
