Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 407/2024/HC-PT

Ngày: 16-5-2024

V/v khiếu kiện quyết định hành chính

trong lĩnh vực quản lý đất đai.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương

Các thẩm phán: Ông Dương Tuấn Vinh

Bà Nguyễn Thị Cúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên

Trong các ngày 09 tháng 5 đến ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 813/2023/TLPT-HC ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1295/2024/QĐHC-PT ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện:

  1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970
  2. Ông Ngô Tuấn A, sinh năm 1965

Cùng trú tại địa chỉ: C Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (đều vắng mặt).

  1. Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1979

Cư trú tại địa chỉ: H T, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người đại diện ủy quyền của bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Tuấn A:

  • Bà Trần Thị Phương D, sinh năm 1980; Cư trú tại địa chỉ: E khu phố A, đường số A, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
  • Bà Lê Thị Kim A1, sinh năm 1980; Cư trú tại địa chỉ: E khu phố F, Quốc lộ A, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người đại diện ủy quyền của ông Nguyễn Quốc H:

  • Bà Trần Thị Phương D, sinh năm 1980; Trú tại địa chỉ: E khu phố A, đường số A, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
  • Bà Ngô Thị Mỹ V, sinh năm 1984; Trú tại địa chỉ : A T, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
  • Bà Nguyễn Thị Vân T, sinh năm 1994; Trú tại địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện V, tỉnh Khánh Hòa (vắng mặt).

- Người bị kiện:

Ủy ban nhân dân Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trụ sở: 168 T, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng T1 – Chủ tịch (Vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Nguyễn Phương A2 – Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường Thành phố T (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Lê T2, sinh năm 1976; Cư trú tại địa chỉ: G X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người kháng cáo:

Người khởi kiện bà Nguyễn Thị L, ông Ngô Tuấn A và ông Nguyễn Quốc H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Người khởi kiện bà Nguyễn Thị L, ông Ngô Tuấn A và ông Nguyễn Quốc H trình bày:

Ngày 06/9/1999, Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt UBND quận T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt Giấy CNQSDĐ) số 00587/QSDÐ/02/QĐ-UB-QLĐT cho hộ bà Nguyễn Thị T3 (bà Nguyễn Thị T4 và ông Lê Bạch D1) trong đó có diện tích đất ruộng mùa 957m² thửa 413, tờ bản đồ (viết tắt tờ BĐ) số 9.

Ngày 10/4/2004, bà Nguyễn Thị T3 ký “Giấy thỏa thuận chuyển nhượng đất” cho ông Ngô Tuấn A, bà Nguyễn Thị L diện tích đất 54m² (4,5m x 12m) thửa 413 tại vị trí: phía Đông giáp lô đất của bà Châu Thị T5, phía Bắc giáp phần đất còn lại của bà Nguyễn Thị T3 là căn nhà số F (số cũ là 10/11) Quốc lộ A, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt căn nhà số F), phía Tây giáp hẻm chung rộng 2,5m và đối diện căn nhà số F và phía Nam giáp lô đất của ông Nguyễn Quốc H thể hiện qua Bản vẽ sơ đồ nhà đất (viết tắt Bản vẽ) số 148/TGP/2017 ngày 30/6/2017 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X (viết tắt Công ty) Thiên Gia P được Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ (viết tắt Giám đốc CNVPĐKĐĐ) quận T duyệt ngày 20/7/2017 ghi nhận phần đất trên có diện tích 36,7m² thuộc thửa 413-1 và 17,3m² thửa 414-1 theo Tài liệu năm 1992 (tương ứng 45m² thửa 123-1 và 9m² thửa 123-2 theo Tài liệu năm 2005).

Cùng ngày 10/4/2004, bà Nguyễn Thị T3 ký “Giấy thỏa thuận chuyển nhượng đất” cho ông Nguyễn Quốc H diện tích 61,8m² (4,5m x 13,75m) thửa 414, tờ BĐ số 9 tương ứng 47,5m² thửa 123-1 và 14,3m² thửa 123-2 (Tài liệu năm 2005) theo Bản vẽ số 147/TGP/2017 ngày 06/6/2017 của Công ty T6 được Giám đốc CN VPĐKĐĐ quận Thủ Đức duyệt ngày 17/7/2017 được bà Nguyễn Thị T3 xác nhận ngày 17/3/2018.

2

Hộ bà L và hộ ông H đã nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích nhận chuyển nhượng của bà T3 nêu trên.

Do trích lục thửa đất xin cấp của hộ bà L và hộ ông H bị chồng ranh với nhà đất của bà Trần Lê T2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5197/2008/GCN ngày 31/7/2008, nên ngày 08/11/2017, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ đã ban hành Văn bản số 2728/CNTĐ thông báo cho bà T2 làm thủ tục để đo vẽ cấp đổi hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5197 đã được cấp cho đúng hiện trạng thực tế đang sử dụng, điều chỉnh về tọa độ góc ranh để xem xét hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho hộ bà L và hộ ông H, nhưng bà T2 không đồng ý. Nên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ đã ban hành Văn bản số 165/CNTĐ và số 166/CNTĐ ngày 15/01/2018 trả lại hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ bà L và hộ ông H vì lý do đất có tranh chấp với hộ bà T2.

Ngày 10/4/2018, bà L và ông H đã nộp đơn đến UBND Phường H để hòa giải tranh chấp với bà Trần Lê T2. Ngày 25/5/2018, UBND phường H, thành phố T đã tổ chức hòa giải nhưng không thành.

Không đồng ý, bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Quốc H không khởi kiện tranh chấp về quyền sử dụng đất mà khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5197/2008/GCN ngày 31/7/2008 mà UBND quận T cấp cho bà Trần Lê T2.

Văn bản số 578/UBND-TNMT ngày 20/02/2020, đại diện người bị kiện trình bày:

Tại Tờ trình số 3380/TTr-TNMT ngày 12/5/2008 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T, ghi nhận: diện tích đất 185,1m² thửa 534, tờ BĐ số 56 có nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn B sử dụng trước năm 1975. Năm 1980, ông B tặng cho con là bà Nguyễn Thị Thạch . Năm 2002, bà T3 cho cháu là bà Nguyễn Thị G một phần nhà đất có diện tích 17,2m2 (xây dựng không phép vào năm 2008) tại căn nhà số F Quốc lộ A, phường H, thành phố T. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 3128/2008/GCN ngày 19/5/2008 cho bà Nguyễn Thị G được xác định vị trí và ranh giới thửa đất theo Bản vẽ hiện trạng vị trí (viết tắt Bản vẽ HTVT) số 045/2006-HAA ngày 10/6/2006 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X (viết tắt Công ty) Hoàng Anh A3.

Ngày 12/7/2008, bà Nguyễn Thị G đã chuyển nhượng nhà đất nêu trên cho bà Trần Lê T2, Hợp đồng được Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng. Ngày 31/7/2008, UBND thành phố T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5197/2008/GCN cho bà Trần Lê T2.

Tuy nhiên, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cấp cho bà T2 nêu trên có tọa độ vị trí không chính xác với vị trí hiện trạng thực tế đất của bà Trần Lê T2 đang sử dụng, nên UBND thành phố T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và xin xét xử vắng mặt.

3

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Lê T2 trình bày:

Bà T2 sống độc thân, ngày 12/7/2008, bà T2 đã nhận chuyển nhượng căn nhà đất tại số: 606/34/21 Quốc lộ A, phường H, thành phố T của bà Nguyễn Thị G. Ngày 31/7/2008, bà T2 đã được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5197/2008/GCN. Việc bà nhận chuyển nhượng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nêu trên là hợp pháp nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của hộ bà L và hộ ông H đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5197/2008/GCN của bà T2.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 2169/2023/HC-ST ngày: 30/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Tuấn A, bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Quốc H đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5197/2008/GHCN ngày 31 tháng 7 năm 2008 của Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Lê T2.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

Ngày 09/10/2023, người khởi kiện bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Tuấn A có kháng cáo;

Ngày 09/10/2023, người khởi kiện ông Nguyễn Quốc H có kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện UBND thành phố T ông Lê Nguyễn Trọng Q cho rằng: Bản đồ HTVT – áp ranh ngày 19/7/2023 của Trung tâm Đo đạc Bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thể hiện có một phần chồng ranh giữa diện tích đất của của hộ bà Nguyễn Thị L và hộ ông Nguyễn Quốc H với một phần diện tích đất của bà Trần Lê T2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5197/2008/GHCN ngày 31 tháng 7 năm 2008 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, nhưng trình tự thủ tục cấp là đúng nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bác yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L, ông Ngô Tuấn A và ông Nguyễn Quốc H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bác yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L, ông Ngô Tuấn A và ông Nguyễn Quốc H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.

Xét yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị L, ông Ngô Tuấn A và ông Nguyễn Quốc H, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1]. Ngày 10/4/2004, bà Nguyễn Thị T3 ký “Giấy thỏa thuận chuyển nhượng đất” cho ông Ngô Tuấn A, bà Nguyễn Thị L diện tích đất 54m² (4,5m x 12m) thửa 413 của bà Nguyễn Thị Thạch . Cùng ngày 10/4/2004, bà Nguyễn Thị T3 ký chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Quốc H diện tích 61,8m² (4,5m x 13,75m) thửa 414, tờ BĐ số 9 tương ứng 47,5m² thửa 123-1 và 14,3m² thửa 123-2. Năm 2017, gia đình bà L, ông A và gia đình ông H làm thủ tục hồ sơ đề nghị xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  2. [2]. Tại Công văn số: 165/CNTĐ ngày 15 tháng 01 năm 2018 và Công văn số: 166/CNTĐ ngày 15 tháng 01 năm 2018 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ (quận T cũ) V/v giao trả hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Bút lục 71, và 72) gửi cho bà L, ông A và ông H và trong Đơn khởi kiện của bà L, ông A và ông H (Bút lục 31) đều thể hiện nội dung: “Ngày 08/11/2017, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Đ có thông báo số 2730/CNTĐ về việc thông báo tiến độ hồ sơ của ông H, bà L do một phần đất ông bà đề nghị cấp giấy chứng có tọa độ vị trí trùng với thửa số 534, tờ bản đồ số 56 đã được Ủy ban nhân dân quận T cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5197/2008/GCN ngày 31/7/2008 cho bà Trần Lê T2”. Tại phiên Tòa Phúc thẩm người đại diện của ông A, bà L và ông H xác nhận trong năm 2018, ông A, bà L và ông H đã nhận được Công văn số: 165 và Công văn số: 165 nêu trên.
  3. [3]. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính quy định về thời hiệu khởi kiện quyết định hành chính là 01 năm kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định hành chính đó. Như vậy, năm 2018 là thời điểm bà L, ông A và ông H đã biết được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 5197/2008/GCN cho bà Trần Lê T2 có ảnh hưởng đến quyền lợi của mình (biết được cụ thể số, ngày tháng năm, cơ quan ban hành và nội dung của quyết định hành chính), nhưng đến ngày 30/7/2020 bà L, ông A và ông H mới nộp đơn khởi kiện hành chính là đã hết thời hiệu khởi kiện, nhưng không phải do sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không phát hiện ra để đình chỉ giải quyết vụ án, nên vẫn tiếp tục giải quyết vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nên cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà L, ông A và ông H hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
  4. [4]. Quan điểm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND thành phố T đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.
  5. [5]. Án phí hành chính sơ thẩm: Bà L, ông A và ông H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp.
  6. [6]. Chi phí tố tụng sơ thẩm: Ông Ngô Tuấn A, bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Quốc H tự nguyện chịu chi phí đo đạc và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã nộp nên không xem xét.
  7. [7]. Án phí hành chính phúc thẩm: Bà L, ông A và ông H không phải chịu.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 143 và khoản 4 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Tuấn A, bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Quốc H.

  1. Hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 2169/2023/HC-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Tuấn A, bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Quốc H về đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5197/2008/GHCN ngày 31 tháng 7 năm 2008 của Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Lê T2.

    Các đương sự trong vụ án này có quyền nhận lại các tài liệu, chứng cứ đã nộp cho Tòa án.

  2. Án phí: Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính. Căn cứ khoản 3 Điều 18 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.

    Trả lại cho bà Nguyễn Thị L, ông Ngô Tuấn A và ông Nguyễn Quốc H 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số: AA/2019/092545 ngày 11/9/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Án phí hành chính phúc thẩm:

    Trả lại cho bà Nguyễn Thị L 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số: AA/2022/0004062 ngày 23/10/2023 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

    Trả lại cho ông Ngô Tuấn A 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số: AA/2022/0004063 ngày 23/10/2023 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

    Trả lại cho ông Nguyễn Quốc H 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số: AA/2022/0004064 ngày 23/10/2023 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HC
  • - ĐS;
  • - Lưu VP, HS. ĐTTB.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Khương

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 407/2024/HC-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 407/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị L, Ông Ngô Tuấn A, Ông Nguyễn Quốc H kiện Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger