Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4064/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29-8-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Văn Khuyến
  2. Ông Hoàng Xuân Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 901/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6173/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng H, sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Số C, Tổ C, Khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Phước H1, sinh năm: 1991.

Địa chỉ: Số A N, Tổ B, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/4/2024, các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ kiện, nguyên đơn bà Nguyễn Hồng H trình bày:

Bà và ông Trần Phước H1 tự nguyện chung sống và kết hôn với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 147/2014, quyển số 02/2014 ngày 24/11/2014.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với ba mẹ ruột của ông H1 tại số nhà A, Khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc sống chung không được hạnh phúc do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống chung với ba mẹ chồng có nhiều vấn đề bất tiện, không hợp tính cách của nhau. Trong thời gian này, bà H1 đã cố gắng chịu dựng để vợ chồng hạnh phúc nhưng cuộc sống cứ ngột ngạt.

Đến năm 2017, để thay đổi cuộc sống xem vợ chồng có hạnh phúc không nên vợ chồng bàn bạc, thống nhất về nhà ba mẹ bà H1 tại Số nhà C, T, Khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để sống. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng chỉ hạnh phúc đến năm 2019 thì lại phát sinh mâu thuẫn do ông H1 không muốn sống chung với cha mẹ vợ nên trở về nhà ba mẹ ruột ông H1 sống, cuối tuần mới về phường T, thành phố B thăm vợ con. Đến năm 2020 - 2021 xảy ra dịch Covid-19 nên việc đi lại nhiều khó khăn, bà H1 và con sống tại B, ông Phước H1 vẫn sống ở T, vợ chồng ít có thời gian gặp nhau. Sau khi hết dịch C -19 thì cuộc sống với chồng vẫn tiếp tục nặng nề do không tìm được tiếng nói chung trong chỗ ở của gia đình và tiền bạc để trang trải cuộc sống gia đình.

Từ đầu 2022 đến năm 2023, số lần ông Phước H1 về thành phố B, tỉnh Đồng Nai thăm vợ, con thưa dần và ngưng hẳn. Thỉnh thoảng vợ chồng có liên lạc quan điện thoại để hỏi thăm về con, nói chuyện về hàn gắn, đoàn tụ nhưng không ai nhường ai, người nào cũng giữ nguyên ý kiến của mình.

Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu nên tình cảm của vợ chồng không còn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Hồng H xin được ly hôn ông Trần Phước H1.

Về con chung: có 01 con chung tên là Trần Kim A, sinh ngày 25/10/2016. Hiện trẻ Anh đang do bà Hồng H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, bà Hồng H xin đượctrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ Anh, không yêu cầu ông Trần Phước H1 cấp dưỡng nuôi con. Bà Hồng H là con một, đang sống chung với cha mẹ ruột tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, có việc làm ôn định (là nhân viên Công ty V) thu nhập đủ để nuôi bản thân và nuôi trẻ A.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Tại các Bản tự khai đề ngày 11/6/2024 và 01/7/2024, bị đơn ông Trần Phước H1 trình bày:

Ông Trần Phước H1 và bà Hồng H tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 147/2014, quyển số 02/2014 ngày 24/11/2014.

Mâu thuẫn vợ chồng là do bà Hồng H có người thứ ba. Ông Trần Phước H1 phát hiện tin nhắn của bà Hồng H và người thứ ba vào ngày 08/4/2024. Từ đó, bà Hồng H và gia đình nhà vợ gây khó khăn không cho ông thăm con. Ông Trần Phước H1 đề nghị Tòa án chuyển qua Cơ quan điều tra xử lý người đã phá hoại gia đình ông và đe dọa ông. Ông không biết họ tên, địa chỉ của người đó. Nay bà Hồng H yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý ly hôn và yêu cầu không hòa giải vì mâu thuẫn giữa ông và bà Hồng H không thể hòa giải được với nhau.

Về con chung: có 01 con chung tên Trần Kim A, sinh ngày 25/10/2016. Ông Phước H1 yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu bà Hồng H

cấp dưỡng nuôi con. Lý do: bà Hồng H có người thứ ba nên ông Phước H1 không đồng ý để trẻ Trần Kim A chung sống với cha dượng. Ông Hồng H có chứng kiến việc Tòa án lấy ý kiến về nguyện vọng của trẻ Trần Kim A muốn sống với ai khi ba mẹ ly nhôn nhưng ông không đồng ý với Tờ trình bày nguyện vọng của bé Trần Kim A do Tòa án lập ngày 31/7/2024.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn trình bày: Giữ nguyên cầu xin được ly hôn với ông Trần Phước H1 vì mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, ông Phước H1 có người phụ nữ khác; về con chung: yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Kim A, sinh ngày 25/10/2016, không yêu cầu ông Trần Phước H1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

- Bị đơn trình bày: Không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Hồng H vì bà Hồng H ngoại tình, cho người hăm dọa hành hung ông, bản thân ông Trần Phước H1 thấy bà Hồng H không còn xứng đáng để chung sống với ông Phước H1; Về con chung, ông Trần Phước H1 yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Kim A, sinh ngày 25/10/2016 và không yêu cầu bà Hồng H cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng, Tòa án có vi phạm về thời hạn xét xử vụ án. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.
  • - Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị:

Về quan hệ hôn nhân: Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc. Đề nghị Hội đồng xét xử cho nguyên đơn Nguyễn Hồng H được ly hôn bị đơn ông Trần Phước H1.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao trẻ Trần Kim A, sinh ngày 25/10/2016 cho bà Nguyễn Hồng H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và ông Trần Phước H1 không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, về nợ chung: Không phải giải quyết.

Án phí hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn bà Nguyễn Hồng H phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:

  • - Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn là ông Trần Phước H1, có địa chỉ cư trú: Số A N, Tổ B, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
  • - Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ vào các lời khai của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu có trong hồ sơ đã đủ cơ sở nhận định:

Nguyễn Hồng H và ông Trần Phước H1 tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 147/2014, quyển số 02/2014 ngày 24/11/2014, nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống, đã có 01 người con chung tên Trần Kim A, sinh ngày 25/10/2016.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do hai bên không phù hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên tranh cãi, vợ chồng không thường xuyên ở chung với nhau nên không thông cảm và chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc con cái. Do mâu thuẫn kéo dài không được giải quyết nên tình cảm phai nhạt dần. Gia đình hai bên cũng hòa giải, hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Bà Hồng H và ông Phước H1 đã ly thân, tách rời cuộc sống chung từ năm 2023 và cùng nghi ngờ lòng chung thủy của nhau. Đến nay tình trạng mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Do đó, việc bà Hồng H yêu cầu ly hôn với ông Phước H1 là có căn cứ để Tòa án chấp thuận cho bà Hồng H được ly hôn ông Phước H1.

Về con chung: Xét trẻ Trần Kim A, sinh ngày 25/10/2016 là trẻ gái, còn nhỏ, đã liên tục sống chung với mẹ từ khi mới sinh đến nay, được chăm sóc tốt và cuộc sống đã ổn định, bản thân trẻ Trần Kim A cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Bà Hồng H có công việc ổn định và việc để trẻ Trần Kim A tiếp tục sống chung với mẹ sẽ không làm xáo trộn cuộc sống và việc học tập của trẻ. Do đó, nghị nên giao trẻ Trần Kim A, sinh ngày 25/10/2016 cho bà Hồng H trực tiếp yêu cầu ly hôn với ông Phước H1 là có căn cứ để Tòa án chấp thuận cho bà Hồng H được ly hôn ông Phước H1.

Về phía ông Phước H1, có công việc tương đối chưa ổn định (chạy xe G) và sẽ gặp khó khăn trong việc chăm sóc con nhỏ, đặt biệt là trẻ gái. Do đó, căn cứ vào quyền

lợi về mọi mặt của con, nghĩ nên chấp thuận yêu cầu của nguyên đơn, cũng như phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là: Giao trẻ tên Trần Kim A, sinh ngày 25/10/2016 cho bà Hồng H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của bà Hồng H không yêu cầu ông Phước H1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên khai không có và không yêu cầu giải quyết. Do đó, Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Hồng H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hồng H được ly hôn ông Trần Phước H1. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 147/2014, quyển số: 02/2014 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/11/2014 cho bà Nguyễn Hồng H và ông Trần Phước H1 không còn giá trị pháp lý.
  2. Về con chung: Giao trẻ tên Trần Kim A, sinh ngày 25/10/2016 cho bà Nguyễn Hồng H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Hồng H không yêu cầu ông Trần Phước H1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
  1. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Hồng H phải nộp án phí ly hôn 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Hồng H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0026261 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà Nguyễn Hồng H đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Trường hợp, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Ủy ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn;
  • Các đương sự;
  • Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4064/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn (hôn nhân gia đình)

  • Số bản án: 4064/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Bà Nguyễn Hồng H1 - ông Trần Phước H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger