TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 406/2024/HSPT Ngày: 27/8/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Yên.
Các thẩm phán: Ông Trần Phương Đông.
Ông Dương Lê Bửu Thiện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Nhi - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 235/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 350/2024/QĐXXPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 244/2024/HS-QĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2024/HSST ngày 25/4/2024 của tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1991, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Lê Thị Q, sinh năm 1954 (còn sống); có vợ tên Phạm Trần Hải H, sinh năm 1995 và 02 con đều sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/9/2023 và hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Luật sư Ngô Phương Hoàng G – Văn phòng luật sư N – Đoàn luật sư tỉnh Đ. (có mặt)
- Ngoài ra còn có các bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thái L, Ngô Quốc T2 và Trần Thị Kim T3 là các đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 24/6/2023, T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Sonic, mang biển số: 60B6-557.68 chở L đến phòng trọ của T3 thuộc ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai để sử dụng ma túy. Khi đến phòng trọ, T2 và L góp với nhau mỗi người 100.000 đồng để mua ma tuý về tổ chức sử dụng. Sau đó, L đưa 200.000 đồng cho T3 để T3 đi mua ma tuý. Nghe vậy, T3 đồng ý và liên lạc với Nguyễn Văn T để mua ma tuý. Khoảng 15 phút sau, T đến phòng trọ T3. Lúc này, T3 đi ra đưa 200.000 đồng cho T. Nhận tiền xong, T đi lên gác và đưa 01 bịch nylông màu trắng, bên trong chứa ma tuý đá cho L trước sự chứng kiến của T2 rồi ra về. Sau đó, L đưa ma tuý cho T2 đổ vào nỏ rồi gọi T3 lên cùng sử dụng ma tuý thì T3 đồng ý. Khi L, T2 và T3 chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ những đồ vật có liên quan.
Ngoài ra, qua quá trình điều tra xác định: Vào ngày 16/9/2023, Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1996, ngụ tại ấp I, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai do có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã sử dụng mạng xã hội zalo “Diễm Ngọc” liên lạc, nhắn tin với Nguyễn Văn T để mua ma tuý đá với số tiền 200.000 đồng. T đồng ý và hẹn D lên nhà T thuộc ấp H, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai để đưa ma tuý. Một lúc sau, D đến nhà T thì có Bùi Văn T4 (không rõ nhân thân, lai lịch là bạn của T) đi từ trong nhà T ra chỉ chỗ cất ma tuý cho D. Đồng thời lúc này, T nhắn tin cho D nói chuyển khoản tiền mua ma tuý cho T4. Lúc này, D nhờ 01 người tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) chuyển khoản tiền mua ma tuý cho T4 xong thì D lấy ma túy đi về.
Tại Bản kết luận giám định số 1338/KL-KTHS ngày 30 tháng 6 năm 2023, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bám dính trong nỏ thủy tinh bị bể được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng. Không hoàn lại mẫu vật, mẫu vật đã sử dụng hết trong công tác giám định.
Vật chứng vụ án:
- 01 bộ dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma tuý gồm: 01 chai nhựa, nắp chai màu trắng, bên trên nắp chai có 02 lỗ tròn, 01 lỗ tròn có 01 ống dẫn bằng nhựa màu vàng nối với 01 ống bằng thuỷ tinh khác có đầu hình tròn để đựng ma tuý, đầu hình tròn đã bị gãy, bên trong đầu hình tròn có chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; 01 lỗ tròn còn lại được gắn 01 đoạn ống nhựa màu tím.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Sonic, mang biển số 60B6-557.68.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52S5G của Ngô Quốc T2.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906 của Trần Thị Kim T3.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s của Nguyễn Thái L.
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 lọ thuỷ tinh hình trụ, bên trên có 01 nắp đậy màu đen được khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 nỏ bằng thuỷ tinh và 01 lỗ gắn 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn thành ống hút của Nguyễn Văn T.
- 01 điện thoại di động hiệu Galaxy, số sêri R58K62TDWAL của Nguyễn Văn T. Tất cả các vật chứng trên, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2024/HSST ngày 25/4/2024 của tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai đã tuyên xử:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Nguyễn Thái L, Ngô Quốc T2, Trần Thị Kim T3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 08 (T5) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/9/2023.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 25/06/2023.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Quốc T2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 25/06/2023.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Kim T3 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 25/06/2023.
- Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
+ Ngày 03/5/2024 bị cáo Nguyễn Văn T nộp đơn kháng cáo và ngày 08/5/2024 nộp đơn kháng cáo bổ sung với nội nôi kháng cáo bản án số 28/2024/HSST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo cho rằng bị cáo không phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến khách quan của vụ án và thu thập chứng cứ không đầy đủ. Do đó, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
* Ý kiến của Luật sư Ngô Phương Hoàng G là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T trình bày:
Do cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như: Biên bản đối chất không có kiểm sát viên tham gia; Biên bản hỏi cung thiếu chữ ký của Kiểm sát viên; Bị cáo T3 không biết chữ nhưng Biên bản lấy lời khai không có người chứng kiến; thu thập thiếu tin nhắn bị cáo T nhắn cho bị cáo T3; đề nghị cơ quan giám định giải thích kết luận giám định, trích xuất tin nhắn điện thoại từ công ty
C1; thực nghiệm hiện trường. Do đó, đề nghị hủy toàn bộ bản án do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ không đầy đủ.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Bị cáo kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ không đầy đủ.
Về thủ tục tố tụng:
- Lúc 20 giờ ngày 24/6/2023, Cơ quan điều tra lập biên bản bắt quả tang các bị cáo T2, T3 và L đang có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngay trong đêm, lúc 23h30 phút đến 0h30 phút sáng 25/6/2023 Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa T2 và L, giữa T2 và T3 nên việc không có Kiểm sát viên tham gia là phù hợp thực tế khách quan, hơn nữa bản chất lời khai của các bị cáo không có mâu thuẫn nên việc tiến hành thủ tục đối chất là không cần thiết.
- Có 05 biên bản hỏi cung được Điều tra viên lập bằng phương pháp đánh máy có thể hiện có Kiểm sát viên tham gia, tuy nhiên trên thực tế không có Kiểm sát viên tham gia nên không ký vào biên bản, đây là lỗi đánh máy sai sót của Cơ quan điều tra, hơn nữa quy định của Bộ luật tố tụng hình sự không bắt buộc phải có Kiểm sát viên tham gia trong quá trình Điều tra viên hỏi cung bị can nên đây không phải là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
- Lời khai ban đầu của bị cáo T3 có người chứng kiến tham gia, các lời khai khác không có người chứng kiếm tham gia. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 2 Điều 133 BLTTHS thì “...người tham gia tố tụng không biết chữ thì người lập biên bản đọc cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến”. Tuy nhiên, tại BL 175, 176 bị can T3 khai biết đọc, nhận biết được mặt chữ do bố mẹ có dạy và thực tế bị cáo biết nhắn tin cho T để mua ma túy, như vậy không thể kết luận bị cáo T3 không biết chữ để bắt buộc các biên bản ghi lời khai và hỏi cung đều phải có người chứng kiến, hơn nữa lời khai của bị cáo là nhất quan, bản thân bị cáo cũng nhiều lần được tiến hành đối chất với L và T2 và lời khai hoàn toàn phù hợp với nhau.
Như vậy Cơ quan điều tra có sai sót về thủ tục tố tụng nhưng không phải là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, do đó không có cơ sở hủy án sơ thẩm theo nội dung kháng cáo của bị cáo T.
Về thu thập chứng cứ:
Đối với các dữ liệu thu thập trên điện thoại di động của các bị cáo T, T3, L, T2 và của người liên quan Nguyễn Thị Ngọc D được xem là chứng cứ bởi lẽ sau khi thu giữ điện thoại di động thì Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với từng người để xác định tên tài khoản mạng xã hội Z, nội dung tin nhắn của từng người, từng người tự giải thích nội dung tin nhắn và được từng người xác nhận là đúng... kết quả phù hợp với các tài liệu khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án, như vậy
được xem là chứng cứ hợp pháp đã được thu thập theo đúng trình tự thủ tục của BLTTHS, không cần thiết yêu cầu Cty Công nghệ V phải xác định lại như yêu cầu kháng cáo của bị cáo T.
Việc giám định xác định cơ chế hình thành dấu vết đối với vệt ma túy dính trên nỏ để xác định các bị cáo đã sử dụng ma túy hay chưa là không cần thiết, bởi lẽ theo Kết luận giám định số 1338/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bám dính trong nỏ thuỷ tinh bị bể được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng; đồng thời kết quả xét nghiêm chất ma túy trong cơ thể thì L, T2 và T3 đều dương tính với M. Như vậy, trong bộ dụng cụ có ma túy mà các bị cáo chuẩn bị để sử dụng, đủ căn cứ để xử lý hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của các bị cáo L, T2, T3 và nguồn ma túy là do T bán nên T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về chứng cứ buộc tội lần thứ nhất của T:
- Biên bản quả tang lập lúc 20 giờ ngày 24/6/2023 (BL 82, 83) thể hiện có thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52S5G của Ngô Quốc T2; 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906 của Trần Thị Kim T3; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3s của Nguyễn Thái L.
- Biên bản làm việc với Trần Thị Kim T3 có người chứng kiến Lê Đình T6 (BL 193): Tươi xác nhận tài khoản mạng xã hội Zalo của T3 có tên tài khoản là “Kimkim” có nội dung trao đổi với tài khoản “Nguyễn T” với nội dung do T3 nhắn “Đưa chị miếng bỏ vô chơi chị phụ em 200k được không” vào lúc 19h20 phút. Kiểm tra dữ liệu trên điện thoại của Tươi có nội dung tin nhắn cho T như trên (BL196).
- Biên bản làm việc với Nguyễn Thái L, Ngô Quốc T2 (BL 121, 162): L xác nhận tài khoản mạng xã hội Zalo của L có tên tài khoản là “Thái L”, T2 xác nhận tài khoản mạng xã hội Z của T2 có tên tài khoản là “thái nt1” có nội dung L nhắn T2 nhờ T2 chở L lên phòng trọ của T3 ở ấp A, xã S vào lúc 18h55 phút ngày 24/6/2023. Kiểm tra dữ liệu trên điện thoại của L và T2 phù hợp nội dung với nhau (BL 164-170).
- Lời khai của T3 xác nhận khoảng 10 phút sau khi T3 nhắn tin mua ma túy thì T đến phòng trọ của T3, T3 đưa tiền, trên gác có T2 và L, T lên gác đưa ma túy và đi luôn.
- Lời khai của L, T2 xác định sau khi T đưa ma túy cho L, L đưa cho T2 đổ ma túy ra bộ dụng cụ rồi cùng T3 chuẩn bị sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
- Biên bản quả tang xác định phát hiện bắt giữ lúc 19h30 phút
Như vậy, có cơ sở xác định khoảng 19 giờ ngày 24/6/2023 thì T2 và L có mặt tại phòng trọ của T3. Sau đó, T2 và L mỗi người góp 100.000 đồng, L đưa cho
T3 200.000 đồng để mua ma túy về cùng sử dụng. Tươi nhắn tin mua ma túy cho T lúc 19h20 phút. Khoảng 10 phút sau T đến đưa ma túy cho L. L đưa ma túy cho T2 đổ vào bộ dụng cụ để chuẩn bị cùng T3 sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ lúc 19 giờ 35 phút. Thời điểm xảy ra hành vi phạm tội là khoảng 19h30 phút ngày 24/6/2023, đây cũng là thời điểm xác định T bán ma túy cho T3, T2 và L cũng là lần phạm tội thứ nhất của T. Mặc dù các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm có sai sót trong việc xác định chưa chính xác thời gian xảy ra tội phạm, tuy nhiên bản chất sự thật khách quan của vụ án là không thay đổi và việc T bán ma túy cho T3, T2, L là có thật. Giữa T với T3, T2 và L đều khai không có mâu thuẫn gì với nhau hơn nữa ngay khi xảy ra hành vi phạm tội thì các bị cáo đều bị bắt giữ và tạm giam, không có khoảng thời gian tại ngoại, đều được đối chất, nhận dạng, các lời khai đều xuyên suốt thống nhất phù hợp với nhau nên việc các bị cáo đổ tội cho T là không phù hợp.
Về chứng cứ buộc tội lần thứ hai của T:
- Biên bản khám xét ngày 18/9/2023 (BL 85, 86) thể hiện có thu giữ của Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động hiệu Galaxy, số sêri R58K62TDWAL
- Biên bản làm việc với Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Ngọc D (BL 236, 238, 239, 257): T xác nhận tài khoản mạng xã hội Zalo của T có tên tài khoản là “Nguyễn T” có nội dung trao đổi với tài khoản “Diễm Ngọc” với nội dung ngày 16/9/2023 D nhờ T mua ma túy cho D với số tiền 200.000 đồng, D chuyển khoản cho người tên T4 (có tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Duy Nhất T4”) 200.000 đồng, T4 chia lại cho T 100.000 đồng bằng cách chuyển khoản lại cho T qua tài khoản Momo tên “Nguyễn Văn T” đăng ký từ số điện thoại 0974.055.xxx. Kiểm tra dữ liệu trên điện thoại của T và D phù hợp nội dung với nhau. (BL 235-349)
- Biên bản đối chất ngày 18/10/2023 (BL 214, 215), các Biên bản hỏi cung ngày 21/11 và 26/12/2023 (BL 200-204) T thừa nhận có bán ma túy cho D vào ngày 16/9/2023 phù hợp với lời khai của D ( BL 251-254, 256-258)
Như vậy, có cơ sở xác định đây là lần phạm tội thứ hai của T.
Trên cơ sở đó cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên "theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, không có cơ sở xem xét toàn bộ nội dung kháng cáo của bị cáo về việc đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Từ những phân tích trên:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của TAND huyện Cẩm Mỹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T nộp trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T cho rằng bị cáo không phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến khách quan của vụ án và thu thập chứng cứ không đầy đủ. Do đó, đề nghị hủy bản án sơ thẩm số 28/2024/HSST ngày 25/4/2024 của tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
- Xét thấy đối với việc bị cáo cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng, thu thập chứng cứ không đầy đủ là không có cơ sở chấp nhận Bởi vì: Có 05 biên bản hỏi cung được Điều tra viên lập bằng phương pháp đánh máy có thể hiện có Kiểm sát viên tham gia, tuy nhiên trên thực tế đều có Kiểm sát viên tham gia nhưng có lần ký vào biên bản và có lần không ký vào biên bản, đây là lỗi đánh máy sai sót của Cơ quan điều tra, hơn nữa quy định của Bộ luật tố tụng hình sự không bắt buộc phải có Kiểm sát viên tham gia trong quá trình Điều tra viên hỏi cung bị can nên đây không phải là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
- Lời khai ban đầu của bị cáo T3 có người chứng kiến tham gia, các lời khai khác không có người chứng kiếm tham gia. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 2 Điều 133 BLTTHS thì “...người tham gia tố tụng không biết chữ thì người lập biên bản đọc cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến”. Tuy nhiên, tại BL 175, 176 bị can T3 khai biết đọc, nhận biết được mặt chữ do bố mẹ có dạy và thực tế bị cáo biết nhắn tin cho T để mua ma túy, như vậy không thể kết luận bị cáo T3 không biết chữ để bắt buộc các biên bản ghi lời khai và hỏi cung đều phải có người chứng kiến, hơn nữa lời khai của bị cáo là nhất quan, bản thân bị cáo cũng nhiều lần được tiến hành đối chất với L và T2 và lời khai hoàn toàn phù hợp với nhau.
Như vậy Cơ quan điều tra có sai sót về thủ tục tố tụng nhưng không phải là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, do đó không có cơ sở hủy án sơ thẩm theo nội dung kháng cáo của bị cáo T.
- Về thu thập chứng cứ:
Đối với các dữ liệu thu thập trên điện thoại di động của các bị cáo T, T3, L, T2 và của người liên quan Nguyễn Thị Ngọc D được xem là chứng cứ bởi lẽ sau khi thu giữ điện thoại di động thì Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với từng người để xác định tên tài khoản mạng xã hội Z, nội dung tin nhắn của từng người, từng người tự giải thích nội dung tin nhắn và được từng người xác nhận là đúng... kết quả phù hợp với các tài liệu khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án, như vậy được xem là chứng cứ hợp pháp đã được thu thập theo đúng trình tự thủ tục của
Bộ luật tố tụng hình sự, không cần thiết yêu cầu Công ty C2 phải xác định lại như yêu cầu kháng cáo của bị cáo T.
Việc giám định xác định cơ chế hình thành dấu vết đối với vệt ma túy dính trên nỏ để xác định các bị cáo đã sử dụng ma túy hay chưa là không cần thiết, bởi lẽ theo Kết luận giám định số 1338/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận là đúng với quy định của pháp luật.
- Đối với bị cáo Nguyễn Văn T không thừa nhận hành vi bán ma túy cho bị cáo Trần Thị Kim T3 chỉ thừa nhận đến nhà bị cáo T3 để lấy tiền 200.000 đồng bị cáo T3 nợ. Tuy, bị cáo T không thừa nhận hành vi bán ma túy cho bị cáo T3 nhưng các bị cáo L, T2 và T3 đều khai nhận bị cáo T đến nhà bị cáo T3 bán 200.000 đồng ma túy, giao ma túy cho bị cáo L dưới sự chứng kiến của bị cáo T2, các bị cáo đổ ma túy vào bộ D1 sử dụng ma túy khi giám định kết luận là ma túy còn dạng vết. Đồng thời, trước đó bị cáo T3 có nhắn tin với bị cáo T về việc mua ma tuý, giữa các bị cáo L, T2, và T3 và bị cáo T không có mâu thuẫn gì, bị cáo T khai là đến nhà bị cáo T3 để lấy 200.000 đồng tiền bị cáo T3 vay nhưng bị cáo T3 khai 200.000 đồng là trả tiền mua ma tuý. Do đó, lời khai của bị cáo T đến nhà T3 lấy tiền nợ là không có cơ sở. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo T đến nhà bị cáo T3 bán 200.000 đồng ma túy cho bị cáo T3, T2, L và giao ma túy cho bị cáo L có sự chứng kiến của bị cáo T2.
Về lần bán ma túy cho Nguyễn Thị Ngọc D bị cáo T chỉ thừa nhận là mua ma túy giúp cho D chứ không bán. Tuy nhiên Nguyễn Thị Ngọc D khai nhận là đến nhà bị cáo T lấy ma túy theo sự chỉ dẫn của bị cáo T, đồng thời có tin nhắn chứng minh T nhắn tin cho D về việc mua bán ma túy, địa điểm giao hàng và chứng cứ T4 chuyển khoản cho T 200.000 đồng tiền T4 nhận của D chuyển khoản lại cho T 100.000 đồng. Từ đó đủ cơ sở kết luận T bán ma túy cho Nguyễn Thị Ngọc D.
Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 24/6/2023, tại phòng trọ của Trần Thị Kim T3 thuộc ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Thái L, Ngô Quốc T2, Trần Thị Kim T3 mua ma túy của Nguyễn Văn T với số tiền 200.000 đồng để tổ chức sử dụng. Khi T2, L, T3 bỏ ma túy vào trong bộ D1 sử dụng ma túy để sử dụng thì bị Công an huyện C bắt quả tang.
Ngoài ra, vào ngày 16/9/2023, Nguyễn Văn T còn bán cho Nguyễn Thị Ngọc D 01 tép ma túy với giá 200.000 đồng.
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và phạm tội 02 lần trở lên thuộc trường hợp được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm.2017). Như cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người đúng tội đúng pháp luật.
[3] Về hành vi của bị cáo nhận thấy: Bị cáo là công dân đã trưởng thành nên bị cáo nhận thức được việc mua bán trái pháp chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền bị cáo đã mua bán trái phép chất ma tuý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương. Cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (T5) năm tù là có cơ sở đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo cho rằng không phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo không có chứng cứ gì chứng minh. Do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
[4] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2024/HSST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 và Điều 38 Bộ luật hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 08 (T5) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2023.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vĩnh Yên |
Bản án số 406/2024/HSPT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 406/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Mua bán trái phép chất ma túy
