TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 406/2025/HS-PT Ngày 04 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Hoàng Minh Thịnh; |
| Các Thẩm phán: | Ông Chung Văn Kết |
| Ông Cao Văn Tám |
Thư ký phiên tòa: Bà Ông Đàm Lê Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 5 và 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1149/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Lâm Hữu T và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2024/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo;
- Lâm Hữu T, sinh năm 1981 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thanh tra viên, Sở Giao thông Vận tải tỉnh B; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lâm Hữu T1, sinh năm 1953; Con bà: Lê Thị T2, sinh năm: 1957; Vợ: Dương Thị Thanh V, sinh năm 1983; có 03 người con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2018;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 26/4/2023, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
- Trần Văn D, sinh năm 1970 tại Bến Tre; Nơi cư trú: 25 Lô A, Trung tâm thương mại N10, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thanh tra viên, Sở Giao thông Vận tải tỉnh B; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Đình T3, sinh năm 1943; Con bà: Vũ Thị H, sinh năm 1943; Vợ: Nguyễn Đình Lệ H1, sinh năm: 1973; có 01 sinh năm 2001;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 26/4/2023, đến ngày 28/6/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Phạm Văn D1, sinh năm 1977 tại Hải Dương; Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thanh tra viên, Sở Giao thông Vận tải tỉnh B; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn K (đã chết); Con bà: Phạm Thị T4, sinh năm 1952; Vợ: Nguyễn Huỳnh Anh T5, sinh năm 1977; có 02 người con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2012;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 03/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
- Trần Ngọc H2, sinh năm 1963 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thanh tra viên, Sở Giao thông Vận tải tỉnh B; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Ngọc Đ (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị C (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Kiều T6, sinh năm 196; có 02 người con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1991;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 03/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
- Nguyễn Mạnh C1, sinh năm 1974 tại Nam Định; Nơi cư trú: B khu Đ (57 N), Phường I, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Chủ DNTN Nguyễn C1; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Vũ T7, sinh năm 1942; Con bà: Trần Thị S (đã chết); Vợ: Phạm Diệu T26, sinh năm 1977; có 01 người con sinh năm 2013;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 04/5/2023, đến ngày 27/9/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Phan Tiến D2, sinh năm 1974 tại Hà Tĩnh; Nơi cư trú: số H T, tổ A, khu phố G, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH Đ8; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Xuân T8, sinh năm 1938; Con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1948; Vợ: Nguyễn Thị V1, sinh năm 1977; có 03 người con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2012;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Hồ Đình H3, sinh năm 1980 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: tổ A khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH K4; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hồ Văn T9, sinh năm: 1951; Con bà: Nguyễn Thị Đ1, sinh năm: 1952; Vợ: Lê Thị Tuyết T10, sinh năm: 1982; có 02 người con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 26/4/2023, đến ngày 24/7/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh, Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Nguyễn Văn S1, sinh năm 1982 tại Hậu Giang; Nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn D3 (đã chết); Con bà: Võ Thị K1, sinh năm: 1942; Vợ: Phạm Mỹ H4, sinh năm: 1989; có 02 người con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 26/4/2023, đến ngày 24/7/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Võ Đăng T11, sinh năm 1983 tại Quảng Nam; Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH D7; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Võ Đăng K2, sinh năm: 1954; Con bà: Trương Thị N, sinh năm: 1956; Vợ: Trần Thị Kim T12, sinh năm: 1985; có 02 người con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2013;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Nguyễn Văn N1, sinh năm 1973 tại Hà Tĩnh; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn Đ2, sinh năm: 1935; Con bà: Phạm Thị H5 (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1975; có 02 người con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2005;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Nguyễn Văn D4, sinh năm 1990 tại Nam Định; Nơi cư trú: Tổ A, Khu phố D, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông: Nguyễn Văn Đ3 năm: 1950; Con bà: Đoàn Thị T13; sinh năm: 1952; Vợ: Nguyễn Thị Thu H6; sinh năm: 1991; có 02 người con sinh năm 2016 và 2024.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 04/5/2023, đến ngày 24/7/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Huỳnh Xuân B, sinh năm 1985 tại Nam Định; Nơi cư trú: ấp M, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Huỳnh Xuân L1, sinh năm: 1952; Con bà: Trương Thị P (đã chết); Vợ: Kha Thị Khánh L2, sinh năm: 1986; có 02 người con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2013;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Trịnh Xuân H11, sinh năm 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH S2; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trịnh Xuân T14, sinh năm: 1948; Con bà: Trần Thị N2, sinh năm: 1951; Vợ: Vũ Thị T15, sinh năm: 1981; có 02 người con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2004;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Trương Đức H7, sinh năm 1975 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: số H tổ D, Khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: kinh doanh vận tải; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Trương Đức H8, sinh năm: 1939; Con bà: Nguyễn Thị K3, sinh năm: 1949; Vợ: Nguyễn Thị N3, sinh năm: 1982; có 02 người con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2012;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 24/7/2023, đến ngày 19/9/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Phạm Thanh T27, sinh năm 1978 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ E, khu phố S, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông: Phạm Thanh T16, sinh năm: 1949; Con bà: Phạm Thị M, sinh năm: 1953; Vợ: Nguyễn Xuân T17, sinh năm: 1983; có 03 người con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2017
Tiền án, tiền sự: không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Hoàng Ngọc T18, sinh năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 434/32/24, Phạm Văn C2, Phường 1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Hoàng Mạnh L3, sinh năm: 1962; Con bà: Nguyễn Thị G, sinh năm: 1963;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Văn Công N8, sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: H Đường B, phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Văn Công Đ4; sinh năm: 1966; Con bà: Nguyễn Thị Thu T19, sinh năm: 1965; Vợ: Nguyễn Thị Cẩm N4, sinh năm: 1991; có 02 người con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Luật sư Lê Ngô T20, Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Lâm Hữu T. (có mặt)
- Luật sư Lê Anh D5, Trần Minh T21, Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Trần Văn D. (có mặt)
- Luật sư Trương Hồng T22, Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Hồ Đình H3. (có mặt)
- Luật sư Huỳnh Khắc T23, Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn D4. (có mặt)
- Luật sư Nguyễn Văn C3, Đoàn luật sư tỉnh B bào chữa cho bị cáo Trịnh Xuân H11. (có mặt)
- Luật sư Nguyễn Hữu M1, Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Hoàng Ngọc T18. (có mặt)
- Luật sư Lê Viết L4, Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Văn Công N8. (có mặt)
(Trong vụ án còn có 38 bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị Tòa không triệu tập.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua công tác nghiệp vụ, Công an tỉnh B đã phát hiện dấu hiệu tội phạm đưa, nhận hối lộ xảy ra tại các Đội nghiệp vụ thanh tra giao thông thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh B. Sau khi thu thập tài liệu ban đầu và tiếp nhận đơn tố cáo của các cá nhân, ngày 26/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC03) phối hợp cùng Phòng 1, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tiến hành triệu tập làm việc sau đó tiến hành khám xét khẩn cấp nơi làm việc, chỗ ở của một số Thanh tra viên. Kết quả đã xác định có dấu hiệu tội phạm nên đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can về các tội “Đưa hối lộ” và “Nhận hối lộ” để điều tra. Kết quả điều tra cụ thể như sau:
Có 07 Đội nghiệp vụ thanh tra thuộc Thanh tra Sở Giao thông vận tải tỉnh B, gồm: các Đội số 1, 2, 3, 5, 7, 8 và Đội Hành chính – Tổng hợp. Các Đội luân phiên thay đổi địa bàn hoạt động trên 07 huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (trừ huyện C) với chu kỳ 02 tháng/ thay đổi 01 lần. Nhiệm vụ và quyền hạn của Thanh tra giao thông được quy định tại Điều 86 Luật giao thông đường bộ.
Từ năm 2021 đến tháng 3 năm 2023, các Thanh tra viên gồm: Lâm Hữu T, Võ Thanh L5, Trần Văn D, Nguyễn Đức T24, Trần Ngọc H2, Phạm Văn D1, Trần Văn M2 đã nhận tiền của nhiều cá nhân, chủ doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ trên các địa bàn thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Mục đích nhận tiền để không hoặc ít kiểm tra, xử phạt hành chính các cá nhân, doanh nghiệp và các lái xe vì để các phương vận tải vi phạm quy định của pháp luật về an toàn, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Căn cứ kết quả sao kê tài khoản ngân hàng, lời khai của các Bị can và các cá nhân, chủ Doanh nghiệp có liên quan đã xác định được cụ thể hành vi của từng Bị can như sau:
I. Nhóm bị cáo nhận hối lộ là các Thanh tra viên (có kháng cáo):
1. Bị caó Lâm Hữu T, Thanh tra viên Đội nghiệp vụ thanh tra số E:
Lâm Hữu T đã sử dụng 02 tài khoản ngân hàng gồm tài khoản mang số 76110000529797 đứng tên ông Dương Ngọc H9 (bố vợ của T) và tài khoản mang số 76010000151306 đứng tên Lâm Hữu T cùng mở tại Ngân hàng B2 để nhận tiền đưa hối lộ của 43/49 Bị can bị khởi tố về tội “Đưa hối lộ” trong vụ án với tổng số tiền là 4.668.900.000 đồng; và nhận của 12 cá nhân, doanh nghiệp được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền là 334.200.000 đồng. Tổng cộng, Lâm Hữu T đã nhận của 55 tổ chức và cá nhân với tổng số tiền là 5.003.100.000 đồng.
Quá trình điều tra Lâm Hữu T khai nhận: các Thanh tra viên đã bàn và thống nhất giao T là đầu mối nhận tiền từ các cá nhân, Doanh nghiệp. Sau khi nhận chuyển khoản tiền thì hàng tháng T rút tiền mặt từ tài khoản của T và nhờ ông Dương Ngọc H9 rút tiền mặt để đưa lại cho T số tiền các cá nhân, doanh nghiệp chuyển cho T qua tài khoản ông H9. Sau đó, Lâm Hữu T chia lại cho đại diện của các đội Thanh tra giao thông tại Trụ sở của Thanh tra giao thông. Cụ thể: Võ Thanh L5 nhận cho Đội số 1; Đinh Ngọc P1 nhận cho Đội số 2; Lê Trung Q nhận cho Đội số 3; Võ Hữu T25 và Lê Minh Đ5 nhận cho Đội số E; Trần Văn M2 nhận cho Đội số 7; Trần Văn D nhận cho Đội số 8 và Đoàn Thanh L6 nhận cho Đội hành chính – tổng hợp (còn được gọi là Đội trạm cân). Khi đưa tiền thì T đưa trực tiếp hoặc qua chuyển khoản qua Ngân hàng. Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC03) tiến hành lấy lời khai các cá nhân trên và tiến hành đối chất với Lâm Hữu T, kết quả: tất cả đều không thừa nhận việc bàn, thống nhất để giao Lâm Hữu T làm đầu mối nhận tiền và cũng không nhận tiền từ Lâm Hữu T. Chỉ có Võ Thanh L5, Trần Văn D, Nguyễn Đức T24 thừa nhận có được T chia tiền nhận hối lộ để chia lại cho các Thanh tra viên cùng Đội.
2. Bị cáo Trần Văn D, Thanh tra viên và là Đội phó Đội nghiệp vụ thanh tra số 8:
Từ tháng 6/2021 đến tháng 7/2022, bị can Trần Văn D nhận chuyển khoản 09 lần của bị can Lâm Hữu T với tổng số tiền là 283.200.000 đồng. Đây là tiền T nhận hối lộ và chia lại cho D. Ngoài ra, Trần Văn D còn trực tiếp nhận chuyển khoản 03 lần với tổng số tiền là 18.000.000 đồng từ bị can Nguyễn Minh Đ6 (Nhân viên Công ty TNHH V2) để không kiểm tra hoặc ít kiểm tra, xử phạt đối với các phương tiện của Công ty V2. Tổng số tiền bị can Trần Văn D nhận hối lộ là 301.200.000 đồng.
Bị can Trần Văn D khai nhận: trong quá trình làm nhiệm vụ thanh tra, xử lý vi phạm giao thông, khi bị can D gặp các cá nhân, doanh nghiệp có xe vận tải, phương tiện vi phạm quy định về pháp luật giao thông đường bộ nhưng là chỗ quen biết của Lâm Hữu T và đã được T gửi thông tin cũng như chia tiền nên đã bỏ qua, không xử lý các lỗi vi phạm. Số tiền D được T chia nhiều hay ít tùy thuộc vào địa bàn được giao cho Đội số 8 phụ trách. Vì có địa bàn có nhiều phương tiện tham gia giao thông có địa bàn ít phương tiện hoặc các cá nhân, doanh nghiệp địa bàn đó gặp khó khăn trong kinh doanh.
3. Bị cáo Phạm Văn D1, Thanh tra viên Đội nghiệp vụ thanh tra số 8:
Bị can Phạm Văn D1 đã đã sử dụng số tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V3 chi nhánh V4 để nhận chuyển khoản tiền đưa hối lộ của các cá nhân, chủ doanh nghiệp có kinh doanh vận tải đường bộ. Bị can D1 đã nhận tiền hối lộ của 04/49 Bị can bị khởi tố về tội Đưa hối lộ với số tiền 213.500.000 đồng; nhận 9.000.000 đồng của 01 cá nhân được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, tổng số tiền Bị can Phạm Văn D1 nhận hối lộ là 222.500.000 đồng.
Bị can Phạm Văn D1 khai nhận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, lợi dụng sự quen biết và lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao, Phạm Văn D1 đã tiếp xúc, đặt vấn đề với các tổ chức/cá nhân kinh doanh vận tải về việc xin tiền hàng tháng; đổi lại D1 sẽ tạo điều kiện cho các phương tiện của các đơn vị kinh doanh vận tải khi lưu thông trên các tuyến đường không bị gây khó khăn.
4. Bị cáo Trần Ngọc H2, Thanh tra viên Đội nghiệp vụ thanh tra số 3:
Bị can Trần Ngọc H2 sử dụng tài khoản ngân hàng mang số 0081001228314 của Trần Thị Huỳnh N5 (con gái H2) tại Ngân hàng V3 để cung cấp cho các cá nhân, chủ doanh nghiệp chuyển tiền hối lộ hàng tháng. Bị can H2 đã nhận của 06 cá nhân, Doanh nghiệp (trong đó có 04/49 cá nhân bị khởi tố về tội Đưa hối lộ) tổng số tiền 124.860.000 đồng.
Sau khi các cá nhân, doanh nghiệp chuyển tiền vào tài khoản, hàng tháng Trần Ngọc H2 sẽ nói Trần Thị Huỳnh N5 rút tiền ra và đưa tiền mặt cho H2. Sau đó H2 sẽ chia đều cho các thành viên trong Đội Thanh tra giao thông số C5. Tuy nhiên, các thành viên của Đội Thanh tra giao thông số C5 không thừa nhận và ngoài lời khai của H2 thì không có tài liệu nào khác nên chưa đủ căn cứ xem xét xử lý đối với các thành viên của Đội Thanh tra giao thông số C5.
II. Nhóm bị cáo đưa hối lộ:
Các bị cáo này là chủ sở hữu, lái xe hoặc là quản lý các xe vận tải và đều khai nhận mục đích chuyển tiền cho các Bị cáo là Thanh tra giao thông nhằm mục đích cho các xe vận tải không bị lực lượng Thanh tra giao thông kiểm tra hoặc nếu có kiểm tra thì xử phạt nhẹ hoặc bỏ qua lỗi vi phạm. Cụ thể:
1. Bị cáo Nguyễn Mạnh C1:
Nguyễn Mạnh C1 là chủ Doanh nghiệp tư nhân N11. Doanh nghiệp này có 07 xe ô tô tự đổ (xe Ben) kinh doanh vận chuyển vật liệu xây dựng. Để thuận lợi trong quá trình kinh doanh, C1 đã thỏa thuận với T về việc C1 sẽ chuyển tiền hàng tháng cho Lực lượng Thanh tra giao thông để các xe và lái xe của C1 không bị kiểm tra hoặc ít bị kiểm tra, xử phạt; T đồng ý và cung cấp số tài khoản cho C1.
Từ tháng 5/2021 đến tháng 2/2023, C1 nhờ vợ là Phạm Thị Diệu T26, sử dụng tài khoản số 76010000041443 và nhờ anh trai là Nguyễn Vũ H10 (kế toán của N11), sử dụng tài khoản số 76010000611535, cùng mở tại Ngân hàng B2, để chuyển khoản tiền đưa hối lộ cho bị can Lâm Hữu T. Tổng cộng Nguyễn Mạnh C1 đã chỉ đạo người nhà chuyển khoản 19 lần với tổng số tiền đưa hối lộ là 781.000.000 đồng. Trong đó, Nguyễn Vũ H10 chuyển 15 lần với số tiền là 601.000.000 đồng; Phạm Thị Diệu T26 chuyển 04 lần với tổng số tiền là 180.000.000 đồng. Tuy nhiên, H10 và T26 khai nhận với Cơ quan điều tra là không biết mục đích chuyển tiền của C1.
2. Bị cáo Phan Tiến D2:
Phan Tiến D2 là Giám đốc của Công ty TNHH Đ8, địa chỉ: số H T, phường P, thành phố B, tỉnh BR-VT. Công ty Đ8 có 10 phương tiện vận tải chuyên chở vật liệu xây dựng (cát, đá) hoạt động trên địa bàn tỉnh BR-VT. Các phương tiện vận tải của Công ty Đ8 khi vận chuyển vật liệu xây dựng trên đường thường bị Lực lượng Thanh tra giao thông kiểm tra, xử phạt. Khoảng đầu năm 2021, D2 tìm gặp Lâm Hữu T để nhờ T hỗ trợ cho các phương tiện vận tải của Công ty Đ8 được hoạt động thuận lợi, T đồng ý với điều kiện Phan Tiến D2 phải chi tiền hàng tháng cho Lực lượng Thanh tra giao thông. D2 và T thống nhất việc chuyển tiền hàng tháng để Lực lượng Thanh tra giao thông không kiểm tra hoặc ít kiểm tra, xử phạt các xe của Công ty Đ8.
Thực hiện theo thỏa thuận, từ tháng 04/2021 đến tháng 01/2023, Phan Tiến D2 đã sử dụng tài khoản ngân hàng mang số 19034878246015 tại Ngân hàng T29 chuyển tiền đưa hối lộ vào tài khoản của Lâm Hữu T 13 lần với tổng số tiền 302.000.000 đồng; vào tài khoản của Dương Ngọc H9 07 lần với tổng số tiền 181.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Phan Tiến D2 đã đưa hối lộ cho Lâm Hữu T là 483.000.000 đồng.
3. Bị cáo Hồ Đình H3:
Hồ Đình H3 là Giám đốc Công ty K4, có các xe vận tải chở vật liệu xây dựng. Ngày 26/4/2023, Hồ Đình H3 đã tự thú và khai nhận hành vi đưa hối lộ của mình như sau: do xe của Công ty thường xuyên bị lực lượng Thanh tra giao thông kiểm tra và xử phạt nên cuối năm 2020, H3 liên hệ với T để thỏa thuận chung tiền hàng tháng để Thanh tra giao thông không xử phạt xe của Công ty K4, T đồng ý và cung cấp 02 số tài khoản mang các số 76110000529797 và 76010000151306 tại Ngân hàng B2 cho H3 để H3 chuyển tiền.
Từ ngày 02/01/2021 đến ngày 19/01/2023, Hồ Đình H3 sử dụng tài khoản cá nhân mang số: 76110000358690 mở tại Ngân hàng B2 để chuyển khoản 24 lần vào 02 số tài khoản nêu trên với tổng số tiền đưa hối lộ là 297.500.000 đồng.
4. Bị cáo Nguyễn Văn S1:
Nguyễn Văn S1 là chủ sở hữu xe ôtô tải biển số 72C-152.45 kinh doanh chở vật liệu. Trong quá trình lưu thông thường bị Lực lượng Thanh tra giao thông kiểm tra, xử phạt nên S1 đã tìm gặp và thỏa thuận với T về việc đưa tiền cho Thanh tra giao thông hàng tháng để không bị kiểm tra, xử phạt. T đồng ý và cung cấp số tài khoản tên Dương Ngọc H9 để Nguyễn Văn S1 chuyển tiền.
Từ tháng 02/2021 đến tháng 12/2022, Nguyễn Văn S1 sử dụng tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng S3 chuyển vào tài khoản Dương Ngọc H9 23 lần với tổng số tiền là 190.000.000 đồng.
5. Bị cáo Võ Đăng T11:
Võ Đăng T11 là Giám đốc Công ty TNHH D7. Công ty D7 có 04 xe tải loại 16,5 tấn, hoạt động kinh doanh chở cát xây dựng, đất san lấp, nông sản.
Quá trình vận chuyển hàng hóa, xe của Công ty D7 thường xuyên bị Thanh tra giao thông xử phạt lỗi quá tải, lốp mòn, vật liệu rơi vãi trên đường. Do có mối quan hệ quen biết từ trước nên Đăng T11 tìm gặp và được Hữu T gợi ý chuyển tiền hối lộ cho Thanh tra giao thông hàng tháng nếu muốn không bị kiểm tra, xử phạt, Đăng T11 đã đồng ý.
Từ tháng 4/2021 đến tháng 02/2023, Võ Đăng T11 đã trực tiếp chuyển khoản 13 lần; nhờ anh trại là Võ Đăng C4 chuyển khoản 09 lần, trong đó có 18 lần chuyển khoản tiền đưa hối lộ với tổng số tiền là 184.300.000 đồng vào các tài khoản của Lâm Hữu T và Dương Ngọc H9. Còn 04 lần khác là Đăng T11 trả tiền mua xe máy, bộ Trống da.
6. Bị cáo Nguyễn Văn N1:
Nguyễn Văn N1 có 03 xe chở gạch lưu thông trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vào khoảng cuối năm 2020; các xe vận tải của Nguyễn Văn N1 liên tục bị Thanh tra giao thông kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính. Đến ngày 07/01/2021, xe của N1 bị Lâm Hữu T yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính, nói xe vi phạm với lỗi xe chở hàng hóa quá tải và yêu cầu phải đưa tiền hàng tháng để xe hoạt động không bị lực lượng Thanh tra giao thông kiểm tra, xử lý; N1 đồng ý. Lâm Hữu T yêu cầu mỗi xe chạy 1 địa bàn (01 huyện) phải nộp hàng tháng là 500.000 đồng và đưa thêm 500.000 đồng cho Đ7 trạm cân. Vì N1 có 03 xe, mỗi xe chạy 07 địa bàn và đưa thêm cho Đội trạm cân nữa thì tổng số tiền phải đưa hàng tháng là 4.000.000 đồng/lxe, nếu không sẽ gây khó khăn; N1 đồng ý. Nếu đến ngày mà Nguyễn Văn N1 chưa đưa tiền thì Lâm Hữu T sẽ gọi điện thoại yêu cầu đưa tiền.
Nguyễn Văn N1 đã trực tiếp chuyển khoản 21 lần và nói vợ là Nguyễn Thị L chuyển khoản 01 lần vào tài khoản của Lâm Hữu T, tổng cộng 22 lần chuyển khoản với tổng số tiền đưa hối lộ là: 132.500.000 đồng.
7. Bị cáo Nguyễn Văn D4
Năm 2022, Nguyễn Văn D4 là người trực tiếp quản lý điều hành Công ty Cổ phần D8, vận hành các xe ôtô tải để tránh lãng phí và hư hỏng trong thời gian chờ bán xe.
Khi xe của Công ty lưu thông bị lực lượng Thanh tra giao thông kiểm tra dù không bị xử phạt nhưng ảnh hưởng đến thời gian vận chuyển. Do quen với Lâm Hữu T nên Nguyễn Văn D4 trực tiếp liên hệ T và đề nghị gửi tiền hàng tháng cho Thanh tra giao thông với mục đích giúp cho các xe tải của Công ty D8 không bị hoặc ít bị lực lượng thanh tra giao thông tỉnh BR-VT kiểm tra, xử phạt vi phạm. T đồng ý và hai bên thống nhất số tiền đưa hối lộ là 6.500.000 đồng/01 tháng. Bị can D4 tự quyết định chi tiền cho Thanh tra giao thông từ nguồn thu bán đất san lấp, không thông báo lại cho ông Trần Văn B1, đại diện pháp luật của Công ty D8.
D4 sử dụng tài khoản số 76210001240052 mở tại Ngân hàng B2 Chi nhánh P3 và tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thị Thu H6 (Vợ của D4) để chuyển tiền cho T thông qua tài khoản đứng tên Dương Ngọc H9. Sau khi chuyển tiền, D4 gọi điện thông báo cho T. Từ tháng 3/2021 đến tháng 01/2023, Nguyễn Văn D4 đã 17 lần chuyển tiền hối lộ cho Lâm Hữu T với tổng số tiền 111.500.000 đồng.
8. Bị cáo Huỳnh Xuân B:
Huỳnh Xuân B là chủ sở hữu 01 xe tải vận chuyển đất san lấp. Trong quá trình kinh doanh vận tải thì B có gọi thêm một số xe vận tải của những người khác cùng chạy hàng cho mình. Khi các xe vận chuyển đất đi san lấp thì gặp lực lượng Thanh tra giao thông dừng xe kiểm tra và xử phạt về các lỗi như quá trọng tải, che bạt không kín. Sau đó B gặp Lâm Hữu T và hai bên thỏa thuận việc “chung chi” hàng tháng, T cung cấp cho B số tài khoản và yêu cầu B chuyển tiền hàng tháng vào tài khoản cho T với thỏa thuận 750.000đ/xe/tháng. Mục đích của việc chuyển tiền cho Bị can T là là để khi các phương tiện của B gặp lực lượng thanh tra giao thông thì không bị xử phạt.
Từ tháng 3/2021 đến tháng 2/2023. B đã 21 lần sử dụng tài khoản của mình mở tại Ngân hàng B2 chuyển khoản tiền hối lộ cho Lâm Hữu T với tổng số tiền đưa hối lộ là 107.000.000 đồng.
9. Bị cáo Trịnh Xuân H11:
Trịnh Xuân Xuân H11 là giám đốc, người đại diện theo pháp luật Công ty TNHH S2, Công ty có 01 xe ô tô tải tự đổ loại 15 tấn. Khi xe ôtô của Công ty lưu thông trên đường thì Lâm Hữu T thường xuyên dừng xe kiểm tra và lập biên bản các lỗi vi phạm. Sau đó, Bị can T đặt vấn đề, nếu muốn xe không bị lực lượng Thanh tra giao thông kiểm tra, xử phạt thì hàng tháng phải đưa 700.000 đồng/địa bàn nên H11 đồng ý.
Từ tháng 7/2021 đến tháng 01/2023, Trịnh Xuân H11 đã trực tiếp và chỉ đạo Nguyễn Thị L7 (Phó Giám đốc) chuyển khoản 21 lần vào 02 số tài khoản do Lâm Hữu T cung cấp cho Lâm Hữu T, với tổng số tiền là 94.800.000 đồng, trong đó:
- Trịnh Xuân H11 trực tiếp chuyển 16 lần với số tiền 64.000.000 đồng.
- Nguyễn Thị L7 chuyển 05 lần với số tiền 30.800.000 đồng.
Làm việc với Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị L7 khai nhận không biết mục đích chuyển tiền của Trịnh Xuân H11.
10. Bị cáo Trương Đức H7:
Trương Đức H7 là chủ hộ kinh doanh vận tải tại số nhà H khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Huyên có 04 xe ô tô tải thường vận chuyển gạch từ tỉnh tỉnh Đồng Nai đến bán tại tỉnh BR-VT.
Vào khoảng cuối năm 2021, các phương tiện của H7 thường xuyên bị Lực lượng Thanh tra giao thông tỉnh B dừng xe kiểm tra và xử phạt, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh. Sau đó H7 tìm gặp và Lâm Hữu T đã yêu cầu H7 gửi tiền theo tháng thì T sẽ tạo điều kiện cho các xe của H7 trong lưu thông vận chuyển hàng hóa. Do kinh doanh trong lĩnh vực vận tải mà thường xuyên bị lực lượng Thanh tra giao thông gây khó khăn nên H7 đã đồng ý chuyển tiền hối lộ hàng tháng cho Lâm Hữu T.
Từ ngày 27/01/2022 đến ngày 04/01/2023, Trương Đức H7 đã 11 lần chuyển khoản tiền hối lộ cho Lâm Hữu T thông qua tài khoản của Dương Ngọc H9, với tổng số tiền đưa hối lộ là 94.000.000 đồng.
11. Bị cáo Phạm Thanh Tùng
Phạm Thanh Tùng là chủ doanh nghiệp T30 có sở hữu xe ôtô tải để thực hiện dịch vụ vận chuyển vật liệu. Trong quá trình xe lưu thông thường xuyên bị lực lượng Thanh tra giao thông dừng xe để kiểm tra, xử phạt nên ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện hợp đồng. Nên khi Lâm Hữu T gọi điện yêu cầu “chung tiền tháng” thì T27 phải đồng ý chuyển tiền với mức 500.000 đồng/xe/tháng, số tiền có thể nhiều hơn nếu xe hoạt động trên nhiều tuyến.
Phạm Thanh T27 sử dụng 02 số tài khoản, gồm: số 76210000291552 mở tại Ngân hàng B2 chi nhánh P3 và số 1978799999999 mở tại Ngân hàng M3 chi nhánh P3 để chuyển tiền hối lộ cho Lâm Hữu T. Phạm Thanh T27 đã 07 lần chuyển khoản với tổng số tiền đưa hối lộ là 71.200.000 đồng.
12. Bị cáo Hoàng Ngọc T18:
Hoàng Ngọc T18 là quản lý phương tiện của Công ty N12, chuyên vận chuyển bê tông tươi. Khoảng đầu năm 2022, các lái xe của Công ty gọi điện thoại báo cho T18 việc bị Thanh tra giao thông kiểm tra, xử phạt nên T18 trực tiếp đến nơi xe đang bị xử phạt và gặp 01 Thanh tra viên giới thiệu tên là L5. Tại đây, Hoàng Ngọc T18 đề nghị chi tiền hàng tháng để lực lượng Thanh tra giao thông bỏ qua các lỗi vi phạm khi các xe của Công ty N12 lưu thông trên đường. Liêm nhận lời và nói sẽ có người gọi điện thoại và cung cấp số tài khoản để hàng tháng ông T18 chuyển tiền. Khoảng 20 phút sau, có 01 số điện thoại lạ (nói giọng N6) gọi cho T18 và giới thiệu là cán bộ Thanh tra giao thông và cung cấp số tài khoản để T18 chuyển tiền.
Từ tháng 3/2022 đến tháng 12/2022, Hoàng Ngọc T18 sử dụng tài khoản cá nhân chuyển khoản 10 lần vào tài khoản số 00881001228314 của Trần Thị Huyền N7 (con gái bị can Trần Ngọc H2) với tổng số tiền đưa hối lộ là 29.000.000 đồng. Ngoài ra, T18 còn chuyển 09 lần vào tài khoản cá nhân của bị can Võ Thanh L5 với tổng số tiền đưa hối lộ là 27.000.000 đồng. Tổng cộng Hoàng Ngọc T18 chuyển khoản 29 lần với tổng số tiền đưa hối lộ là 56.000.000 đồng.
13. Bị cáo Văn Công Nhật
Văn Công Nhật là quản lý của Công ty TNHH Một thành viên D9. Công ty do Văn Công Đ4 (bố ruột của N8) làm Giám đốc, đại diện theo pháp luật nhưng do Đ4 lớn tuổi nên giao cho N8 điều hành và chịu trách nhiệm.
Năm 2015, Công ty D9 nhận nhiều đơn hàng (vận chuyển dung môi, hóa chất) từ Khu Công nghiệp Đ, thành phố V đi thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Trong quá trình vận chuyển hàng hóa, các lái xe về báo lại cho Văn Công N8 biết về các loại chi phí vận chuyển trên đường, trong đó có chi phí tiền đưa cho Thanh tra giao thông tỉnh B để được tạo điều kiện, không gây khó khăn khi xe lưu thông trên đường. Do thường xuyên bị kiểm tra, gây khó nên khoảng tháng 4/2022, Văn Công N8 trực tiếp lái xe đi nhận và giao hàng. N8 đã tìm hiểu và trực tiếp gặp Lâm Hữu T đặt vấn đề: hàng ngày, Công ty D9 có khoảng 10 xe tải chạy qua 03 địa bàn thị xã P, thành phố B và thành phố V; hàng hóa là hóa chất và dung môi, xe không vi phạm các lỗi quá tải xe, quá tải đường, quá tải cầu, quá khổ, đề nghị Lâm Hữu T giúp đỡ, hàng tháng sẽ đưa 6.000.000 đồng và Lâm Hữu T đồng ý.
Văn Công N8 sử dụng tài khoản cá nhân số 19028714342021 mở tại Ngân hàng T29 chuyển khoản 06 lần vào tài khoản của Lâm Hữu T với tổng số tiền đưa hối lộ là 36.000.000 đồng. Việc N8 thỏa thuận chuyển tiến đưa hối lộ cho Lâm Hữu T, ông Văn Công Đ4 không biết.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2024/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố:
Các bị cáo Lâm Hữu T, Trần Văn D, Phạm Văn D1, Trần Ngọc H2 phạm tội “Nhận hối lộ”;
Các bị cáo Nguyễn Mạnh C1, Phan Tiến D2, Hồ Đình H3, Nguyễn Văn S1, Võ Đăng T11, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn D4, Huỳnh Xuân B, Trịnh Xuân H11, Trương Đức H7, Phạm Thanh T27, Hoàng Ngọc T18, Văn Công N8, phạm tội “Đưa hối lộ”.
Áp dụng điểm a khoản 4, Điều 354, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS,
- Xử phạt: Lâm Hữu T 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.
Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 354; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Trần Văn D 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 28/6/2023.
- Xử phạt: Phạm Văn D1 10 (mười) năm năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2023.
- Xử phạt: Trần Ngọc H2 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2023.
Áp dụng khoản 3 Điều 364; điểm s, u khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Nguyễn Mạnh C1 từ 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 27/9/2023.
Áp dụng khoản 2 Điều 364; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Phan Tiến D2 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt: Hồ Đình H3 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 24/7/2023.
- Xử phạt: Nguyễn Văn S1 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 24/7/2023.
- Xử phạt: Võ Đăng T11 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt: Nguyễn Văn D4 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 24/7/2023.
- Xử phạt: Huỳnh Xuân B 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án
- Xử phạt: Nguyễn Văn N1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt: Trịnh Xuân H11 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt: Trương Đức H7 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 24/7/2023 đến ngày 19/9/2023.
Áp dụng khoản 2 Điều 364; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt: Phạm Thanh T27 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt: Hoàng Ngọc T18 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt: Văn Công N8 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/10/2024).
Giao bị cáo Văn Công N8 cho Ủy ban nhân dân Phường F, Quận G, Tp. giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn D, Trần Ngọc H2, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Mạnh C1, Nguyễn Văn S1, Nguyễn Văn D4, Huỳnh Xuân B, Trịnh Xuân H11, Trương Đức H7, Phạm Thanh T27, Hoàng Ngọc T18
Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Phan Tiến D2, Võ Đăng T11, Hồ Đình H3
Sửa Bản án sơ thẩm số 126/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về phần hình phạt đối với các bị cáo Trần Văn D, Trần Ngọc H2, Nguyễn Mạnh C1, Phan Tiến D2, Hồ Đình H3, Võ Đăng T11, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn S1, Trương Đức H7, Huỳnh Xuân B, Nguyễn Văn D4, Trịnh Xuân H11, Pham Thanh T28 và Hoàng Ngọc T18.
- Căn cứ điểm c, đ khoản 2 Điều 354, điểm b, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS,
- Xử phạt: Trần Văn D 07 (bảy) năm tù về tội “Nhận hối lộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 28/6/2023.
- Căn cứ điểm c, đ khoản 2 Điều 354; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Trần Ngọc H2 06 (sáu) năm tù về tội “Nhận hối lộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/2023.
- Căn cứ khoản 3 Điều 364; điểm s, u khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Nguyễn Mạnh C1 04 (bốn) năm tù về tội “Đưa hối lộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 25/9/2023.
- Căn cứ điểm đ, e khoản 2 Điều 364; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Hồ Đình H3 02 (hai) năm tù về tội “Đưa hối lộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 24/7/2023.
- Xử phạt: Nguyễn Văn N1 02 (hai) năm tù về tội “Đưa hối lộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt: Võ Đăng T11 02 (hai) năm tù về tội “Đưa hối lộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt: Phan Tiến D2 02 (hai) năm tù về tội “Đưa hối lộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ điểm đ, e khoản 2 Điều 364; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự
- Xử phạt: Nguyễn Văn S1 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo về tội “Đưa hối lộ”, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn S1 cho UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ điểm đ, e khoản 2 Điều 364; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Huỳnh Xuân B 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đưa hối lộ”, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Huỳnh Xuân B cho UBND phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt: Nguyễn Văn D4 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đưa hối lộ”. thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn D4 cho UBND phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 364; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt: Trịnh Xuân H11 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đưa hối lộ”, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trịnh Xuân H11 cho UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt: Trương Đức H7 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đưa hối lộ”, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trương Đức H7 cho UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt: Phạm Thanh T27 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đưa hối lộ”, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Phạm Thanh T27 cho UBND phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt: Hoàng Ngọc T18 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đưa hối lộ”, thời gian thử thách là 04 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Ngọc T18 cho U, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
- Về án phí hình sự phúc thẩm:
Các bị cáo Lâm Hữu T, Phạm Văn D1 và Văn Công N8 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo Trần Văn D, Trần Ngọc H2, Phan Tiến D2, Nguyễn Mạnh C1, Nguyễn Văn S1, Trương Đức H7, Phạm Thanh T27, Hoàng Ngọc T18, Võ Đăng T11, Nguyễn Văn N1, Huỳnh Xuân B, Nguyễn Văn D4, Hồ Đình H3 và Trịnh Xuân H11 không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Thịnh |
Bản án số 406/2025/HS-PT ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự
- Số bản án: 406/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2024/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
