|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 406/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12/9/2024
V/v: Tranh chấp Hôn nhân
và gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Kim Thanh
Các Hội thẩm nhân dân :
- 1. Ông: Đoàn Văn Minh
- 2. Ông: Trần Quốc Sơn
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Ông Lê Hoàng Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 12/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 350/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/8/2024, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2024/QĐXX-ST ngày 20/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương L, sinh 1995. Địa chỉ: Số A, ngách E N, phường M, quận B, Hà Nội (Có mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Q, sinh 1989. Nơi thường trú: TDP số F H, phường P, quận N, Hà Nội. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T – Cục C Bộ C1 (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, xét xử, Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Phương L trình bày: Tôi và anh Nguyễn Hữu Q kết hôn có đăng ký tại UBND phường P, quận N, Hà Nội vào ngày 11/3/2017 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi cưới vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Q sử dụng ma túy tại nhà nhiều lần, tôi đã khuyên bảo nhưng anh Q không thay đổi. Hiện nay anh Q đang đi thi hành án tại Đội 4, Trại giam T, Thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng tôi ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên tôi làm đơn xin ly hôn anh Q để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chúng tôi không có con chung.
Về tài sản, công sức, công nợ chung, riêng : không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản ghi lời khai, anh Nguyễn Hữu Q trình bày:
Tôi và chị L tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 11/03/2017 tại UBND phường P, quận N, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có mẫu thuẫn gì lớn. Tuy nhiên do tôi nghiện ma túy, vợ tôi có khuyên tôi từ bỏ ma túy nhưng tôi vẫn sử dụng. Nay chị L làm đơn ly hôn tôi, tôi đồng ý. Về con chung: Chúng tôi không có con chung. Về tài sản, công sức, công nợ chung, riêng : không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay tôi đang thi hành án tại Đội 4, trại giam T1, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy tôi không thể về Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội để tham gia các buổi hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nên tôi đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt tôi.
Tại phiên tòa:
Chị L giữ nguyên quan điểm của mình đã đưa ra trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể:
- Về tình cảm: chị xin ly hôn anh Nguyễn Hữu Q.
- Về con chung: Anh chị không có con chung.
- Về tài sản, công sức, công nợ chung, riêng : không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng, đảm bảo quy định của pháp luật trong tất cả các quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa; Về phía các đương sự: chấp hành đúng nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Phương L. Cho chị L ly hôn anh Q; Về con chung: Không có; Về tài sản, công sức, công nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Hữu Q có Nơi thường trú tại: TDP số F H, phường P, quận N, Hà Nội vì vậy Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là anh Nguyễn Hữu Q đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Q hiện đang thi hành án tại Trại giam T, tỉnh Thanh Hóa nên đã xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc tại Tòa cũng như xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điểm b, khoản 2, Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Phương L:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương L và anh Nguyễn Hữu Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 11/3/2017 tại UBND phường P, quận N, thành phố Hà Nội. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, chị L xác định không còn tình cảm vợ chồng, không thể hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nên chị L đã làm đơn xin ly hôn anh Q để ổn định cuộc sống.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào ngày 20/8/2024, Tòa án đã tiến hành ghi lời khai của anh Q tại Trại giam T. Anh cho rằng do anh nghiện ma túy và hiện nay anh đang thi hành án tại Trại giam T, tỉnh Thanh Hóa nên nay chị L xin ly hôn anh thì anh đồng ý. Do vậy cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị L và anh Q.
- Về con chung: Anh chị không có con chung.
- Về tài sản, công sức, công nợ chung, riêng: Không có nên HĐXX không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Phương L và anh Nguyễn Hữu Q được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 55, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 4 Điều 147, 271, 273, 278 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Phương L và anh Nguyễn Hữu Q.
- Về con chung: Anh chị không có con chung.
- Về tài sản, công sức, công nợ chung, riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số BLTU/23 0009938 ngày 09/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.
6. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Phương L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Hữu Q vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận :
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Thị Kim Thanh |
Bản án số 406/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 406/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình
