Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 406/2024/DS-ST

Ngày: 02-7-2024

V/v: tranh chấp hợp đồng

tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Quang Cảnh
  2. Ông Lê Ngọc Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự, thụ lý số số 688/2023/DSST ngày 23 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 514/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á
  2. Địa chỉ: D N, Phường E, Quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị T (có mặt)

    Địa chỉ: D N, Phường E, Quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Ông Trương Quang M, sinh năm 1979 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: A chung cư T, A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 11 năm 2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ngân hàng TMCP Á do bà Nguyễn Thị T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 09/4/2019, ông Trương Quang M có ký với Ngân hàng TMCP Á (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á (bản tiếng Việt)- các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông M, ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với chi tiết như sau: số thẻ tín dụng: 4365 99xx xxxx 3253; ngày cấp: 09/4/2019; loại thẻ: Visa Signature; hạn mức thẻ 100.000.000 đồng; hiệu lực thẻ tháng 04/2022; lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí: theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A - là một phần không tách rời của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng.

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Trương Quang M vi phạm nghĩa vụ trả nợ với A. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt sử dụng thẻ, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn, ngày 20/9/2023, A đã chuyển toàn bộ dư nợ thẻ tín dụng nêu trên sang nợ quá hạn.

Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Trương Quang M trả ngay cho A tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 02/7/2024 là 136.044.297 đồng, trong đó: nợ gốc 105.942.113 đồng, lãi quá hạn là 30.102.184 đồng.

Ông Trương Quang M còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A, tính kể từ ngày 03/7/2024 đến ngày trả hết nợ.

Bị đơn ông Trương Quang M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng ông M đều vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo qui định nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

Tại phiên tòa:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nguyên đơn chỉ yêu cầu ông M thanh toán số tiền nợ gốc của thẻ tín dụng trên là 105.609.446 đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn xác định yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc của hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên là 105.942.113 đồng (tăng 332.667 đồng so với vốn gốc A yêu cầu tại Đơn khởi kiện) vì dư nợ gốc tăng thêm do phí không thanh toán số tiền thanh toán tối thiểu của kỳ tháng 9/2023, tương ứng 4% số tiền phải thanh toán tối thiểu (theo Biểu lãi suất và phí đính kèm). Tuy nhiên tại thời điểm khởi kiện A chưa ghi nhận và đến tháng 02/2024 mới ghi nhận khoản phí này và theo quy định tại Khoản 5.2 Điều 5 tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của ngân hàng A thì nguyên đơn được quyền nhập phí không thanh toán số tiền thanh toán tối thiểu vào số dư nợ đầu kỳ tiếp theo (khoản phí này là khoản dư nợ không bị tính lãi quá hạn). Ngoài ra căn cứ khoản 1.27 Điều 1 tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của ngân hàng A thì dư nợ thẻ bao gồm giá trị các giao dịch thẻ, phí, lãi liên quan đến việc sử dụng thẻ được liệt kê trong bảng thông báo giao dịch hàng tháng.

Do đó nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông M thanh toán một lần số tiền tính đến ngày 02/7/2024 là 136.044.297 đồng, trong đó: nợ gốc: 105.942.113 đồng, lãi quá hạn là 30.102.184 đồng.

Ngoài ra ông Trương Quang M còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á (bản tiếng Việt), kể từ ngày 03/7/2024 đến ngày trả hết nợ.

- Bị đơn ông Trương Quang M vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ đơn khởi kiện ngày 06 tháng 11 năm 2023 của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Căn cứ kết quả xác minh của công an phường T, quận T thì ông Trương Quang M địa chỉ tại phường T, quận T nhưng đã bán nhà đi khỏi địa phương, không rõ nơi chuyển đến. Do ông M có nơi cư trú cuối cùng tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Trương Quang M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 171; Điều 177, Điều 179; Điều 196, Điều 208, Điều 220; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông M đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo quy định. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3]. Về yêu cầu của đương sự:

Bị đơn ông Trương Quang M không có mặt tại Tòa án để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ cũng như vắng mặt tại phiên tòa hôm nay mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu, chứng cứ, tài liệu của nguyên đơn nộp và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, để xem xét giải quyết.

[3.1] Về hình thức và nội dung hợp đồng tín dụng:

Xét, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á (bản tiếng Việt) ký ngày 09 tháng 4 năm 2019 giữa ngân hàng và ông Trương Quang M; lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: hai bên có xác lập hợp đồng theo mẫu chung do Ngân hàng dự thảo, theo quy định tại Điều 405 Bộ luật Dân sự 2015, việc hai bên ký hợp đồng theo đúng trình tự, thủ tục quy định, đồng thời bị đơn ông M đã thực hiện thanh toán một số kỳ của hợp đồng (theo bảng kê do phía nguyên đơn lập) nên Hội đồng xét xử xét, hình thức và nội dung bản hợp đồng này được giao kết và thực hiện là hoàn toàn tự nguyện, hình thức hợp đồng và nội dung thỏa thuận phù hợp và không trái quy định pháp luật, có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại các Điều 385; Điều 398; Điều 405; Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Trong vụ án này, bị đơn ông Trương Quang M không có yêu cầu phản tố.

[3.2] Về thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán:

Tại phiên tòa nguyên đơn có yêu cầu tính số tiền nợ gốc là 105.942.113 đồng (tăng 332.667 đồng so với Đơn khởi kiện):

Về số tiền nợ gốc tại đơn khởi kiện ngày 06/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nguyên đơn chỉ yêu cầu ông M thanh toán số tiền nợ gốc của thẻ tín dụng trên là 105.609.446 đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn xác định yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc của hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên là 105.942.113 đồng (tăng 332.667 đồng so với vốn gốc A yêu cầu tại Đơn khởi kiện) vì dư nợ gốc tăng thêm do phí không thanh toán số tiền thanh toán tối thiểu của kỳ tháng 9/2023, tương ứng 4% số tiền phải thanh toán tối thiểu (theo Biểu lãi suất và phí đính kèm), Hội đồng xét xử xác định số tiền nợ gốc trên tăng thêm do nguyên đơn chưa ghi nhận phí không thanh toán số tiền tối thiểu nên dẫn đến số tiền nợ gốc có chênh lệch, tuy nhiên theo quy định tại Khoản 5.2 Điều 5 tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của ngân hàng A thì nguyên đơn được quyền nhập phí không thanh toán số tiền thanh toán tối thiểu vào số dư nợ đầu kỳ tiếp theo (khoản phí này là khoản dư nợ không bị tính lãi quá hạn). Ngoài ra căn cứ khoản 1.27 Điều 1 tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của ngân hàng A thì dư nợ thẻ bao gồm giá trị các giao dịch thẻ, phí, lãi liên quan đến việc sử dụng thẻ được liệt kê trong bảng thông báo giao dịch hàng tháng. Do đó việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc 105.942.113 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.

Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ theo đơn khởi kiện; Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á (bản tiếng Việt) ký ngày 09 tháng 4 năm 2019; Thông báo chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ tín dụng ngày 10/10/2023; Bảng tóm tắt sao kê do nguyên đơn lập, xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông M vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Điều 12 bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á (bản tiếng Việt) nên ngân hàng yêu cầu ông M thanh toán nợ gốc và lãi tính đến ngày 02/7/2024 là 136.044.297 đồng (trong đó nợ gốc: 105.942.113 đồng, lãi quá hạn là 30.102.184 đồng) là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 351; Điều 357; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, ông M mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa trình bày ý kiến, cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh đã thanh toán nợ cho Ngân hàng. Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông M thanh toán số nợ trên là có cơ sở, đúng pháp luật, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Do vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3.3]. Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy: yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền lãi chậm trả phát sinh kể từ ngày 03/7/2024 theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là phù hợp nên chấp nhận.

[3.4]. Về thời hạn thanh toán: Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ trên nên nguyên đơn yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Trương Quang M có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng TMCP Á số tiền tính đến ngày 02/7/2024 là 136.044.297 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng kể từ ngày 03/7/2024 cho đến khi thanh toán xong số nợ. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Trương Quang M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.802.215 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí 2.690.231 đồng cho Ngân hàng TMCP Á.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 179; Điều 227; Điều 228; các Điều 264, 266, 267, 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng:

  • Điều 351; Điều 357; Điều 385; Điều 398; Điều 405; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao..
  • Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng Thương mại cổ phần Á.

- Ông Trương Quang M có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền còn thiếu của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á (bản tiếng Việt) ký ngày 09 tháng 4 năm 2019 là 136.044.297 đồng (trong đó nợ gốc: 105.942.113 đồng, lãi quá hạn là 30.102.184 đồng)

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Trương Quang M còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á (bản tiếng Việt) ký ngày 09 tháng 4 năm 2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên.

Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Thời hạn và phương thức thanh toán: Một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trương Quang M phải nộp số tiền án phí là 6.802.215 đồng

Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí 2.690.231 đồng cho ngân hàng Thương mại cổ phần Á theo biên lai thu số 0000316 ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (Vân).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 406/2024/DS-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 406/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấnp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger