|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 406/2024/HS-PT Ngày: 17/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Minh Tuấn;
Các Thẩm phán: Ông Thái Duy Nhiệm;
Ông Phạm Đình Khánh.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Minh - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1424/2023/TLPT- HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thanh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh T sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ A, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH MTV T2; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Phạm Thị H và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2023; có mặt.
- Bị hại không kháng cáo (không triệu tập đến phiên tòa): Anh Nguyễn Văn L sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn T, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị (không triệu tập đến phiên tòa):
- Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1); địa chỉ: Số H phố L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Chị Phạm Thị H sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ A, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh T là Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV T2 (sau đây viết tắt là Công ty T2), được thành lập và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 23/12/2015; địa chỉ trụ sở tại Tổ G, phường Q, thành phố P, tỉnh Hà Nam; ngành nghề kinh doanh mặt hàng sắt, thép. Tháng 8/2021, Công ty T2 mua chiếc ô tô hiệu Toyota Corola, màu đen, số khung MR2KUAAG8M0016346, số máy 2ZRY733433 với giá 850.000.000 đồng theo hình thức trả góp, T đã trả đại lý bán xe 112.000.000 đồng. Ngày 27/8/2021, T đăng ký và được Phòng C1 Công an tỉnh H cấp Giấy chứng nhận đăng ký (sau đây viết tắt là GCNĐK) ô tô số 90003385, biển kiểm soát (sau đây viết tắt là BKS) 90A-150.14, chủ sở hữu Công ty T2. Ngày 31/8/2021, T đại diện Công ty T2 thế chấp chiếc xe ô tô trên để vay Ngân hàng thương mại cổ phần V (V2) - Chi nhánh H1 số tiền 738.000.000 đồng, mục đích để trả tiền mua xe. Sau khi thế chấp, V2 giữ lại GCNĐK xe ô tô số 90003385, chủ xe là Công ty T2 và giao chiếc xe ô tô BKS 90A-150.14 cùng bản phô tô GCNĐK xe ô tô có xác nhận của V2 - Chi nhánh H1 cho T quản lý, sử dụng.
Ngày 15/11/2021, do cần tiền để đáo hạn ngân hàng nên T vay của anh Nguyễn Văn L 450.000.000 đồng và hẹn 03 ngày sau trả tiền. Do không đáo hạn được ngân hàng, T sử dụng toàn bộ số tiền vay của anh L để đầu tư kinh doanh thép nhưng bị thua lỗ nên T không trả được tiền cho anh Lê đ hạn và xin khất nợ trả dần thì anh L đồng ý. Sau đó, T đã nhiều lần trả tiền anh L và còn nợ lại 310.625.000 đồng.
Tháng 3/2022, thấy quảng cáo trên mạng xã hội Facebook có nội dung “Làm giấy tờ các loại” nên T có ý định đặt làm giả GCNĐK xe ô tô số 90003385, BKS 90A-150.14 mục đích cầm cố để vay tiền sử dụng trả lãi ngân hàng và kinh doanh. T liên hệ với tài khoản Facebook (không xác định được tên và địa chỉ), cung cấp hình ảnh thông tin GCNĐK của xe ô tô BKS 90A-150.14 đặt làm giả với giá 4.000.000 đồng. Khoảng một tuần sau, một người phụ nữ khoảng 45 tuổi (không xác định được tên, địa chỉ) đi xe mô tô đến cửa hàng T3 giao cho T một phong bì dán kín. T mở ra kiểm tra bên trong có 01 GCNĐK xe ô tô giả số 90003385, tên chủ xe Công ty T2, BKS 90A-150.14 và thanh toán cho người phụ nữ 4.000.000 đồng như thỏa thuận.
Thấy T nợ tiền đã lâu và không trả nên ngày 19/4/2022, anh Nguyễn Văn L cùng anh Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội) đến cửa hàng thép Đ để yêu cầu T trả tiền. Tại đây, anh L yêu cầu T trả 310.650.000 đồng tiền nợ thì T nói không có tiền trả và thỏa thuận bán chiếc xe ô tô hiệu Toyota Corola, màu đen, BKS 90A-150.14 cho anh L với giá 1.000.000.000 đồng, đối trừ 310.650.000 đồng T còn đang nợ, anh L phải trả cho T 689.375.000 đồng. Thỏa thuận xong, T viết giấy bán xe và đưa cho anh L các giấy tờ liên quan đến chiếc xe ô tô BKS 90A-150.14 gồm: 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe, 01 Giấy chứng nhận kiểm định và 01 GCNĐK xe ô tô giả số 90003385 tên chủ xe là Công ty T2.
Anh Lê n anh T1 sử dụng tài khoản ngân hàng số 0901000123818 của anh T1 mở lại Ngân hàng thương mại cổ phần N - Chi nhánh H1 (V3) chuyển 600.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng số 12210000782324 của T mở tại Ngân hàng H1 (B), còn lại 89.375.000 đồng anh L và T thống nhất sau khi T xuất hóa đơn đỏ mua xe ô tô BKS 90A-150.14 cho anh Lê 1 thủ tục sang tên thì anh L sẽ thanh toán số tiền còn lại. Sau khi nhận 600.000.000 đồng. T giao cho anh L chiếc xe ô tô BKS 90A-150.14 cùng các giấy tờ liên quan và hàng tháng T vẫn trả tiền mua xe ô tô cho V2 - Chi nhánh H1 theo Hợp đồng thế chấp số HNA/21062 ngày 31/8/2021 đã ký với V2 - Chi nhánh H1.
Anh Lê s nhiều lần gọi điện yêu cầu T đưa hóa đơn mua xe ô tô của Công ty T2 để làm thủ tục sang tên thì T đều lấy lý do chưa xuất được hóa đơn nên chưa đưa cho anh L được. Tháng 12/2022, anh L kiểm tra thì biết ô tô BKS 90A-150.14 được T thế chấp tại V2 - Chi nhánh H1 để vay tiền. Nghi ngờ T sử dụng GCNĐK ô tô giả để lừa đảo chiếm đoạt tiền, ngày 13/3/2023 anh L làm đơn gửi Công an tỉnh H tố cáo hành vi lừa đảo của T, đồng thời giao nộp 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Corola, màu đen, BKS 90A-150.14; Giấy bán xe ô tô ngày 19/4/2022 (được ký hiệu A); 01 GCNĐK xe ô tô 90003385 tên chủ xe là Công ty T2, BKS 90A-150.14 (được ký hiệu A); 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự số 21BB210604672; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô số 7454258; 01 bản sao kê tài khoản ngân hàng số 09010000123818.
Ngày 11/4/2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H đã ra ra lệnh bắt giữ, khám xét chỗ ở đối với T. Quá trình bắt giữ và khám xét không thu giữ được đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, T giao nộp 01 điện thoại Iphone XS màu vàng, được niêm phong (ký hiệu M).
V2 cung cấp tài liệu xác định ngày 31/8/2021, V2 đã nhận thế chấp chiếc xe ô tô hiệu Toyota Corola, màu đen, BKS 90A-150.14 để cho Công ty T2 do T làm Giám đốc vay 738.000.000 đồng, thời hạn vay đến 31/8/2028. Tính đến ngày 03/4/2023, Công ty T2 đã trả 140.900.387 đồng tiền gốc và 82.301.654 đồng tiền lãi, còn nợ lại 553.200.000 đồng tiền gốc và 65.562.757 đồng tiền lãi.
Kiểm tra dữ liệu điện thoại niêm phong ký hiệu M không phát hiện dữ liệu liên quan đến vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 172/KL-KTHS ngày 30/3/2023, Phòng K Công an tỉnh H kết luận: “Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 90003385 gửi giám định ký hiệu A là giả (mẫu in và hình dấu được tạo bằng phương pháp in màu, chữ ký được tạo bằng phương pháp ký trực tiếp)”.
Tại Bản kết luận giám định số 208/KT-KTHS ngày 19/4/2023, Phòng K Công an tỉnh H kết luận: “Chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Thanh T trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thanh T trên mẫu so sánh M1, M2, M3 do cùng một người viết, ký ra”.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, chị Phạm Thị H (là vợ của T) đã trả cho anh Nguyễn Văn L 910.625.000 đồng, anh L đã nhận đủ tiền, không có đề nghị gì về trách nhiệm dân sự và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho T. V1 có đơn đề nghị nhận lại chiếc xe ô tô BKS 90A-150.14 của Công ty T2 đã thế chấp để đảm bảo thu hồi khoản tiền đã vay V2.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2023/HS-ST ngày 27/10/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 174; điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 341; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 38; Điều 47; Điều 50; Điều 55 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 12 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 16 (Mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2023.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thanh T số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 5.000.000 (năm triệu) đồng đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp phạt bị cáo 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 06/11/2023, bị cáo Nguyễn Thanh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, từ chối Luật sư bào chữa do Tòa án chỉ định bào chữa cho bị cáo và tự bào chữa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, về hình phạt đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có phần nghiêm khắc, vì bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại, khai báo thành khẩn, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có chú ruột là liệt sĩ, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do đó, có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm cho bị cáo từ 01 năm đến 02 năm tù đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, giữ nguyên mức hình phạt đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và hình phạt bổ sung mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam và Kiểm sát viên, Tòa án cấp sơ thẩm và Hội đồng xét xử sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh T từ chối Luật sư do Tòa án chỉ định bào chữa cho bị cáo và xin tự bào chữa. Việc bị cáo từ chối Luật sư do Tòa án chỉ định bào chữa cho bị cáo và xin tự bào chữa là đúng quy định tại Điều 77 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã mô tả và quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Do cần tiền trả nợ và kinh doanh, thông qua mạng xã hội Facebook, tháng 3/2022, bị cáo cung cấp thông tin và đặt làm giả GCNĐK xe ô tô số 90003385, BKS 90A-150.14 nhãn hiệu Toyota Corola, màu đen đang được thế chấp tại V2 - Chi nhánh H1. Ngày 19/02/2022, tại cửa hàng T3 ở tổ E, phường Q, thành phố P, tỉnh Hà Nam, bị cáo đã sử dụng GCNĐK xe tô tô giả số 90003385 bán chiếc xe ô tô hiệu Toyota Corola nêu trên cho anh Nguyễn Văn L với giá là 1.000.000.000 đồng, đối trừ 310.625.000 đồng bị cáo nợ anh L, anh L phải trả cho T 689.375.000 đồng. Anh Lê thông q anh Nguyễn Văn T1 trả cho bị cáo 600.000.000 đồng, còn lại 89.375.000 đồng hai bên thỏa thuận anh L tiếp tục trả khi T hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng. Số tiền bị cáo chiếm đoạt của anh L là 910.625.000 đồng. Trong quá trình điều tra, chị Phạm Thị H (là vợ của bị cáo) đã trả cho anh L số tiền 910.625.000 đồng.
[4] Như vậy, trong khi chiếc xe chiếc xe ô tô hiệu Toyota Corola, BKS 90A-150.14, GCNĐK xe ô tô số 90003385 đang thế chấp V2 - Chi nhánh H1 để đảm bảo cho khoản nợ của Công ty T2, không được phép chuyển nhượng, GCNĐK xe ô tô số 90003385 bản chính do V2 - Chi nhánh H1 giữ, bị cáo đã sử dụng GCNĐK xe tô tô giả để bán chiếc xe ô tô này cho anh L và chiếm đoạt của anh L số tiền 910.625.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự quản lý Nhà nước, trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải; đã tác động và được gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại số tiền 910.625.000 đồng; bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có chú ruột có công với Cách mạng (là Liệt sỹ) được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên và xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và phạt bổ sung bị cáo 15.000.000 đồng đối với cả hai tội, là phù hợp. Tuy nhiên, đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, như đã nêu trên, bị cáo đã bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, có chú ruột là Liệt sỹ được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên mức hình phạt 12 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc.
[8] Do đó, có cơ sở để chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo đối với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt tù đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và hình phạt bổ sung. Vì vậy, sửa một phần quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cho bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Do vậy, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội là chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo đối với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt tù đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và hình phạt bổ sung, sửa một phần quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cho bị cáo, là có cơ sở nên được chấp nhận.
[10] Do được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[11] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Thanh T đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Thanh T đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và hình phạt bổ sung.
Sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Áp dụng điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 174; điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 341; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 38; Điều 47; Điều 50; khoản 1 Điều 54; Điều 55 Bộ luật Hình sự;
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 11 (Mười một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2023.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thanh T số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 5.000.000 (năm triệu) đồng đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp phạt bị cáo 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Minh Tuấn |
Bản án số 406/2024/HS-PT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về vụ án hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 406/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
