Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 406/2024/HC-PT

Ngày: 16-5-2024

V/v Khiếu kiện quyết định hành chính

về phê duyệt phương án bồi thường và

quyết định giải quyết khiếu nại.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên

Ông Hoàng Thanh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 986/2023/TLPT-HC ngày 06 tháng 12 năm 2023 về “Khiếu kiện các quyết định hành chính về phê duyệt bồi thường và quyết định giải quyết khiếu nại”

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 74/2023/HC-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 662/2024/QĐPT – HC ngày 22/4/2024, giữa các đương sự:

Người khởi kiện:

  1. Ông Lê Xuân Đ, sinh năm 1945
  2. Bà Kiều Thị L, sinh năm 1950

Cùng địa chỉ: Ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai

(Ông Đ có mặt, bà L vắng mặt)

Người bị kiện:

  1. Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn L1 – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X (đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: số B đường H, khu phố A, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X.

Địa chỉ: số B đường H, khu phố A, thị trấn G, huyện X, Đồng Nai.

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H – Phó Chủ tịch (Đơn xin vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Huỳnh Văn T - Trưởng Phòng T1 (vắng mặt).

Địa chỉ: số B đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lê Xuân V, sinh năm 1984 (vắng mặt)
  2. Chị Nguyễn Thanh M, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Người kháng cáo: Người khởi kiện - ông Lê Xuân Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung tại bản án sơ thẩm và lời trình bày của người khởi kiện ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L như sau:

Quyết định 4287/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 của Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ hộ bà Kiều Thị L bị ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông, bà vì diện tích các thửa đất 127 và 128, tờ bản đồ 46, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, đền bù theo giá đất của vị trí 4. Nhưng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho gia đình ông Lê Xuân Đ, bà Kiều Thị L thì giá đền bù các thửa đất này phải thuộc vị trí 1, mới đúng và thửa đất số 05, tờ bản đồ 57, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai phải bồi thường theo giá thị trường là (300.000.000 đồng/mét chiều ngang giáp Quốc lộ A x 36 mét = 10.800.000.000 đồng). Do đó người khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định gồm:

  • Quyết định số 4287/QĐ-UBND ngày 29-7-2020, của Ủy ban nhân dân huyện X, về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Kiều Thị L, bị ảnh hưởng dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – N phía Đông giai đoạn 2017-2020, đoạn qua huyện X;
  • Quyết định số 6138/QĐ-UBND ngày 25-11-2020, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X, về việc giải quyết nội dung khiếu nại của bà Kiều Thị L và ông Lê Xuân Đ (lần đầu);
  • Quyết định số 1455/QĐ-UBND ngày 05-5-2021, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ, về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L (lần hai).

Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.

Căn cứ pháp lý để nêu ra yêu cầu trên là: Quyết định 49/2019/QĐ-UBND ngày 31-12-2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành quy định: Phần đất từ Quốc lộ A sâu vào 200 mét được tính là vị trí 1.

- Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện X và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X, do ông Nguyễn Văn L1 đại diện trình bày:

1. Về căn cứ, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất:

  • Dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - N phía Đông giai đoạn 2017-2020 qua huyện X thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, lợi ích công cộng và đã được Quốc Hội chấp thuận tại Nghị quyết số 52/2017/QH ngày 22/11/2017 theo quy định tại khoản 3, Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.
  • Dự án phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của huyện đến năm 2020 được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ phê duyệt tại Quyết định số 4327/QĐ- UBND ngày 01-12-2017; kế hoạch sử dụng đất hàng năm của huyện X được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ phê duyệt tại Quyết định số 4382/QĐ- UBND ngày 31-12-2019 theo quy định tại tại Điều 63 Luật Đất đai năm 2013.

Chủ trương thực hiện dự án được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận tại Nghị quyết số 52/2017/QH ngày 22-11-2017 về việc thẩm định và phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - N phía Đông giai đoạn 2017-2020; Quyết định số 2998/QĐ-UBND ngày 17-10-2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ điều chỉnh Quyết định số 3348/QĐ-UBND ngày 27- 4 - 2016 phê duyệt tiểu dự án giải phóng mặt bằng Dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc-N phía Đông giai đoạn 2017-2020.

- Căn cứ kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt và chủ trương đầu tư dự án, Ngày 05-11-2019, Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Kế hoạch thu hồi đất số 217/KH – UBND; Thông báo thu hồi đất số 1404/TB-UBND ngày 29/11/2019, 1007/TB-UBND ngày 08-11-2019 và Thông báo số 421/TB-UBND ngày 09-4-2020 về thông báo đính chính số thửa, số tờ và diện tích thu hồi tại Thông báo số 1404/TB-UBND ngày 29-11-2019 của Ủy ban nhân dân huyện X về việc thu hồi đất của ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L để triển khai thực hiện dự án theo quy định tại Điều 67 và Điều 69 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 1, khoản 2, Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

- Trung tâm phát triển quỹ đất huyện X phối hợp với Ủy ban nhân dân xã X tổ chức họp phổ biến kế hoạch thu hồi đất, gửi thông báo thu hồi đất và niêm yết công khai chủ trương, thông báo thu hồi đất theo quy định tại khoản 1, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 và Quyết định số 41/2019/QĐ- UBND ngày 16-10-2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ, ban hành quy trình và trình tự, thủ tục, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Sau khi thực hiện xong các thủ tục thông báo thu hồi đất, kiểm kê đánh giá thiệt hại về đất đai và tài sản trên đất thu hồi thực hiện dự án và lập, phê duyệt

phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định số 4359/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 về việc thu hồi đất của ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L đang sử dụng tại xã X để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc-N phía Đông giai đoạn 2017-2020 theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2, Điều 66 Luật Đất đai năm 2013.

Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định số 4359/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 về việc thu hồi đất của ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L là đủ căn cứ, đúng trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền theo quy định Luật Đất đai năm 2013.

2. Về thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

  • Để lập, thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và thu hồi đất thực hiện dự án; Ủy ban nhân dân huyện X lập thủ tục trình Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 886/QĐ-UBND ngày 25-3 2020 về việc phê duyệt giá đất cụ thể để thực hiện bồi thường theo quy định tại khoản 3, Điều 114 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 4 quy định kèm theo Quyết định số 41/2019/QĐ-UBND ngày 16-10-2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đg Nai.
  • Ngày 31-7-2020, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện X phối hợp với Ủy ban nhân dân xã X niêm yết Quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ về đất đai, tài sản do thu hồi đất thực hiện Dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc-N phía Đông giai đoạn 2017-2020; thông báo được gửi đến ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L theo quy định tại Điều 4 quy định kèm theo Quyết định số 41/2019/QĐ-UBND ngày 16-10-2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành quy trình và trình tự, thủ tục, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Việc tiến hành kiểm kê, đánh giá thiệt hại được thực hiện dân chủ, công khai, có sự chứng kiến của đại diện ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã X, đại diện khu ấp đảm bảo thành phần, nội dung lập biên bản kiểm đếm đảm bảo quy định tại Điều 7 quy định kèm theo Quyết định số 41/2019/QĐ-UBND ngày 16-10-2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.

- Nguồn gốc đất, nhà ở, công trình, vật kiến trúc được Ủy ban nhân dân xã X xác nhận, Phòng Kinh tế và Hạ tầng thẩm tra về nhà ở, công trình, vật kiến trúc và Phòng Tài nguyên và Môi trường thẩm tra về đất đai theo quy định tại Điều 9 quy định kèm theo Quyết định số 41/2019/QĐ-UBND ngày 16- 10-2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.

Phương án bồi thường, hỗ trợ được Trung tâm phát triển quỹ đất huyện tổ chức lấy ý kiến các hộ dân và niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã, trụ sở ấp nơi có đất thu hồi với thời gian 20 ngày theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 và Quyết định số 41/2019/QĐ-UBND ngày 16-10-2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành quy trình và trình tự, thủ tục, hỗ

trợ, tái định cư và thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Ngày 29-7-2020, Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định số 4287/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L được phê duyệt số tiền là 6.413.141.163 đồng.

Trong đó:

Về bồi thường quyền sử dụng đất là 4.183.332.000 đồng, cụ thể.

  • Diện tích 300m² đất, loại đất ở tại nông thôn vị trí 1 (đường N) thuộc một phần thửa đất số 05, tờ bản đồ số 57, bản đồ địa chính xã X với đơn giá 4.827.000 đồng/m², thành tiền 1.448.100.000 đồng.
  • Diện tích 823,6m² đất, loại đất trồng cây lâu năm vị trí 1 (đường N) thuộc một phần thửa đất số 05, tờ bản đồ số 57, bản đồ địa chính xã X với đơn giá 1.037.000 đồng/m², thành tiền 854.073.200 đồng.
  • Diện tích 496m² đất, loại đất nuôi trồng thủy sản vị trí 1 (đường N) thuộc một phần thửa đất số 05, tờ bản đồ số 57, bản đồ địa chính xã X với đơn giá 1.037.000 đồng/m², thành tiền 514.352.000 đồng.
  • Diện tích 4.595,2m² đất, loại đất trồng cây lâu năm vị trí 4 (đường nhóm 1), thửa đất số 128, tờ bản đồ số 46, bản đồ địa chính xã X với đơn giá 284.000 đồng/m², thành tiền 1.305.036.800 đồng.
  • Diện tích 217,5m² đất, loại đất trồng cây lâu năm vị trí 4 (đường nhóm 1), thửa đất số 127, tờ bản đồ số 46, bản đồ địa chính xã X với đơn giá 284.000 đồng/m², thành tiền 61.770.000 đồng.

Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất: 1.554.920.000 đồng; bồi thường về nhà, vật kiến trúc: 582.429.913 đồng; bồi thường về cây trồng, hoa màu: 74.459.250 đồng; bồi thường phí di chuyển: 6.000.000 đồng; thưởng chấp hành tốt chủ trương: 12.000.000 đồng.

3. Giải quyết đơn khiếu nại của hộ gia đình ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L:

Nguồn gốc, diễn biến quá trình sử dụng đất của hộ bà Kiều Thị L và ông Lê Xuân Đ như sau:

  • Ngày 20-01-1997, bà Kiều Thị L có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích là 6.962 m². Ngày 10-02-1999, Ủy ban nhân dân huyện X cấp giấy CNQSD đất số O 092091 cho hộ bà Kiều Thị L đối với tổng diện tích đất 6.962m², gồm 03 thửa đất: thửa số 272, diện tích 1.293m², loại đất T+LN (300m² T + 993m² LN); thửa số 271, diện tích 496m², loại đất AO; thửa số 270, diện tích 5.173 m², loại đất LN, cùng tờ bản đồ số 8A, bản đồ địa chính xã X năm 1996. Theo bản đồ địa chính xã X năm 1996, trên đất có 01 con suối chia cắt 02 thửa đất 271, 272 với thửa đất số 270 (trích lục bản đồ địa chính cũ kèm theo).
  • Ngày 14-6-2013, bà Kiều Thị L có đơn đề nghị đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Lý do biến động: Do đo đạc từ bản đồ địa chính cũ thành bản đồ địa chính mới.
  • Ngày 24-6-2015, hộ bà Kiều Thị L được Sở T2 cấp giấy CNQSD đất số CA 347628 đối với thửa số 128 (thửa 270 cũ), diện tích 5.986 m², loại đất CLN, tờ bản đồ số 46, bản đồ địa chính xã X. Theo bản đồ địa chính xã X năm 2012 và sơ đồ thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 347628 thì thửa đất số 128 không tiếp giáp đường, chỉ tiếp giáp suối và 03 thửa đất số 126, 129, 140, cùng tờ bản đồ số 46, bản đồ địa chính xã X.
  • Ngày 12-5-2016, hộ bà Kiều Thị L được Sở T2 cấp giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 264218 đối với thửa số 05 (thửa 271, 272 cũ), diện tích 1.619,6m², loại đất ONT+CLN+NTS, tờ bản đồ số 57, bản đồ địa chính xã X, cụ thể có: 300m² đất ở tại nông thôn (ONT), 823,6m² đất trồng cây lâu năm (CLN), 496m² đất nuôi trồng thủy sản (NTS). Theo bản đồ địa chính xã X năm 2012 và sơ đồ thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 264218 thì thửa đất số 05 tiếp giáp đường Q, tiếp giáp suối và 02 thửa đất số 126, tờ bản đồ số 46 và thửa đất số 06, tờ bản đồ số 57, bản đồ địa chính xã X.
  • Riêng thửa đất số 127, diện tích 217,5m, loại đất CLN, tờ bản đồ số 46, bản đồ địa chính xã X hình thành trong quá trình sử dụng đất của hộ bà Kiều Thị L và ông Lê Xuân Đ, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo bản đồ địa chính xã X thì thửa đất số 127 không tiếp giáp đường, chỉ tiếp giáp suối và 02 thửa đất số 126, 128, cùng tờ bản đồ số 46, bản đồ địa chính xã X.

Như vậy, hộ bà Kiều Thị L và ông Lê Xuân Đ đang sử dụng diện tích đất 7.823,1 m², gồm 03 thửa: thửa đất số 05 (271, 272 cũ), diện tích 1.619,6 m², loại đất ONT+CLN+NTS, tờ bản đồ địa chính số 57 (31 cũ), xã X; thửa đất số 128 (270 cũ), diện tích 5.986 m², loại đất CLN và thửa số 127, diện tích 217,5 m², loại đất CLN, cùng tờ bản đồ số 46, bản đồ địa chính xã X. Theo bản đồ địa chính Xuân Tâm năm 2012, trên đất có 01 con suối chia cắt thửa 05 với 02 thửa đất 127, 128 (trích lục bản đồ địa chính kèm theo). Trên đất có nhà, vật kiến trúc, cây trồng, hoa màu và có suối nước chảy qua (suối nước để cỏ mọc tự nhiên).

Thực hiện dự án cao tốc P - D, hộ bà Kiều Thị L và ông Lê Xuân Đ bị ảnh hưởng bởi dự án. Cụ thể bị thu hồi diện tích đất 6.432,3 m², gồm:

  • Diện tích 1.619,6 m², loại đất ONT+CLN+NTS, thửa đất số 05, tờ bản đồ số 57, bản đồ địa chính xã X, trong đó có: 300m² đất ở tại nông thôn (ONT), 823,6 m² đất trồng cây lâu năm (CLN), 496 m² đất nuôi trồng thủy sản (NTS).
  • Diện tích 4.595,2 m², loại đất CLN, thuộc một phần thửa đất số 128 (5.986 m²), tờ bản đồ số 46, bản đồ địa chính xã X.
  • Diện tích 217,5 m², loại đất CLN, thửa đất số 127, tờ bản đồ số 46, bản đồ địa chính xã X.

Căn cứ quy định pháp luật về đất đai, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện dự án cao tốc P - D, Trung tâm phát triển quỹ đất huyện, Ủy ban nhân dân xã X và cơ quan, đơn vị liên quan đã thực hiện việc kiểm đếm về đất đai, thống kê tài sản khác gắn liền với đất và tính toán bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Kiều Thị L và ông Lê Xuân Đ như Quyết định số 4287/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Kiều Thị L tổng số tiền 6.413.141.163 đồng là đảm bảo quy định của pháp luật. Do đó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định số 6138/QĐ-UBND ngày 25-11-2020, về việc giải quyết khiếu nại của bà Kiều Thị L và ông Lê Xuân Đ (lần đầu) là đảm bảo quy định của pháp luật.

4. Quan điểm của Ủy ban nhân dân huyện X và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X.

* Từ những nội dung nêu trên:

  • Ủy ban nhân dân huyện X xác định thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số: 4287/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L, nên không chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông, bà.
  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định số: 6138/QĐ-UBND ngày 25-11-2020 về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L là đúng quy định của pháp luật, nên giữ nguyên quyết định.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện X và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X là ông Lê Xuân K trình bày:

Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định số 4359/QĐ- UBND ngày 29-7-2020 về việc thu hồi đất của ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L đang sử dụng tại xã X để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc-Nam phía Đông giai đoạn 2017 - 2020 theo đúng thẩm quyền.

Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định số: 4287/QĐ- UBND ngày 29-7-2020 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định số: 6138/QĐ-UBND ngày 25-11-2020 về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L là đúng quy định của pháp luật.

- Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ do bà Nguyễn Thị H là đại diện trình bày:

Về diễn biến vụ việc:

Theo kết quả làm việc tại Biên bản ngày 11-10-2021, của Thanh tra tỉnh về kết quả thẩm tra, xác minh nội dung khiếu nại của ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L, thể hiện:

Theo hồ sơ kỹ thuật của các thửa đất số 05, 127 và 128 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai lập ngày 22-10-2019 và Bản đồ địa chính xã X lập các năm 1996 và 2012 thể hiện: Các thửa đất 127 và 128, tờ bản đồ 46, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai không tiếp giáp đường hẻm, có vị trí nằm phía sau thửa 05, tờ bản đồ 57 (là thửa tiếp giáp mặt tiền đường Quốc lộ 1A); giữa thửa 05 và các thửa 127, 128 có 01 con suối. Theo kết quả xác minh của Thanh tra huyện X và Ủy ban nhân dân xã X tại Biên bản ngày 19-10-2020 (ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L có tham dự và ký tên vào biên bản) thể hiện: Giữa thửa 05 và các thửa 127, 128 có con mương thoát nước tự nhiên (trên bản đồ thể hiện là suối) đi qua, đúng như bản đồ địa chính thể hiện, không xây bờ kè, không có nắp đậy, mương cạn, mùa mưa có nước chảy, mùa nắng không có nước.

Căn cứ khoản 2, Điều 6 và khoản 2, Điều 7 quy định về bảng giá đất tỉnh Đồng Nai 5 năm giai đoạn 2020-2024 ban hành kèm theo Quyết định 49/2019/QĐ-UBND ngày 31-12-2019, của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ, trường hợp hộ ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L sử dụng các thửa đất các thửa 127, 128, tờ bản đồ 46, được xác định thuộc vị trí 4 (đường nhóm 1) là đúng quy định.

Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định số: 4287/QĐ- UBND ngày 29-7-2020 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ diện tích 217,5m² đất nông nghiệp thuộc thửa 127 và diện tích 4.595,2m² đất nông nghiệp thuộc thửa 128, tờ bản đồ 46, xã X cho hộ bà Kiều Thị L theo vị trí 4 (đường nhóm 1) là đúng quy định của pháp luật.

Việc ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L khiếu nại yêu cầu bồi thường, hỗ trợ diện tích 217,5m² thuộc thửa đất số 127 và diện tích 4.595,2m², thuộc thửa 128, tờ bản đồ 46, xã X thuộc vị trí 1 là không có căn cứ.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định số: 6138/QĐ-UBND ngày 25-11-2020 về việc giải quyết không công nhận nội dung khiếu nại của ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L về vị trí đất là đúng quy định của pháp luật.

Do đó:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 1455/QĐ-UBND ngày 05-5-2021, về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L (lần hai) là đúng quy định của pháp luật. Do vậy Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện giữ nguyên Quyết định số 1455/QĐ-UBND ngày 05-5-2021.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ là ông Huỳnh Văn T trình bày: Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục; Hợp pháp, có căn cứ về hình thức và nội dung. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L là không có cơ sở chấp nhận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Lê Xuân V, chị Nguyễn Thanh M) trình bày: Thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của người khởi kiện, không có yêu cầu gì khác.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 74/2023/HC –ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên xử:

Áp dụng các điều 30, 115, 116, 193; khoản 1, Điều 157 và điểm b, khoản 2, Điều 157 Luật Tố tụng hành chính 2015.

Áp dụng các điều 62, 69, 74, 83, 84, 24 Luật Đất đai năm 2013; Các điều 7, 8, 9, 12, 14, 15, 18, 21, 28, 29, 30, 31, 32, 37, 40 Luật Khiếu nại; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ; Quyết định số 64/2014/QĐ-UBND ngày 22-12-2014; Quyết định số 78/2016/QĐ-UBND ngày 28-12-2016, Quyết định số 49/2019/QĐ-UBND ngày 31-12-2019; Quyết định 41/2019/QĐ-UBND ngày 16-10-2019, của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.

Áp dụng Điều 168 Luật Tố tụng hành chính 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí.

1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Xuân Đ, bà Kiều Thị L đối với các Quyết định hành chính gồm:

  • Quyết định số 4287/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 của Ủy ban nhân dân huyện X về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Kiều Thị L;
  • Quyết định số 6138/QĐ-UBND ngày 25-11-2020, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Xuân Đ, bà Kiều Thị L (lần đầu);
  • Quyết định số 1455/QĐ-UBND ngày 05-5-2021, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Xuân Đ, bà Kiều Thị L (lần 2).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 10/10/2023 người khởi kiện ông Lê Xuân Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về áp giá bồi thường vì giữa hộ nhà ông và hộ nhà bà L2 liền kề nhau nhưng mức giá bồi thường khác nhau.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, hủy các Quyết định của Ủy ban.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Xuân Đ làm trong hạn luật định nên hợp lệ. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.

Về nội dung: Ông Lê Xuân Đ cho rằng giá bồi đền bù thửa đất số 127 và số 128, tờ bản đồ 46, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai phải thuộc vị trí số 1 (với mức

giá 300.000.000đ/mét chiều ngang giáp Quốc lộ A x 36 mét = 10.800.000.000 đồng) là không phù hợp. Người khởi kiện kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ, tình tiết nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe quan điểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Xuân Đ có mặt, bà Kiều Thị L vắng mặt, không lý do được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần, người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 157 và Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt theo quy định.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp “Khiếu kiện yêu cầu hủy các quyết định hành chính về phê duyệt bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và quyết định giải quyết khiếu nại”, theo quy định tại Khoản 3, 4 Điều 32 là đúng thẩm quyền giải quyết, thời hiệu khởi kiện và đương sự trong vụ án.

[2]. Về nội dung: Dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - N phía Đông giai đoạn 2017-2020 qua huyện X thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, lợi ích công cộng và đã được Quốc Hội chấp thuận tại Nghị quyết số 52/2017/QH ngày 22/11/2017 theo quy định tại khoản 3, Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.

Ngày 12/7/2019, Hội đồng nhân dân tỉnh Đ thống nhất điều chỉnh quy mô, địa điểm thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Ngày 16/10/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 41/2019/QĐ – UBND về việc phối hợp thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Ngày 05/12/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 3960/QĐ – UBND về việc phê duyệt giá đất để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án.

Sau khi thực hiện xong các thủ tục thông báo thu hồi đất, kiểm kê đánh giá thiệt hại về đất đai và tài sản trên đất thu hồi thực hiện dự án và lập, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định số 4359/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 về việc thu hồi diện tích đất 6.432,3 m² đất tại thửa đất số 5, tờ bản đồ địa chính số 57 và thửa đất số 127, 128, tờ bản đồ số 46 tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai của ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L.

Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai căn cứ đơn giá đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ phê duyệt tại các Quyết định số 886/QĐ – UBND tỉnh Đ ngày 25/3/2020 và Quyết định số 3960/QĐ – UBND ngày 05/12/2019 để xác định tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho bà Kiều Thị L là 6.413.141.163 đồng.

Không đồng ý với Quyết định số 4287/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 của Ủy ban nhân dân huyện X về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ. Ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L khiếu nại và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định số 6138/QĐ-UBND ngày 25-11-2020 về việc giải quyết nội dung khiếu nại của bà Kiều Thị L và ông Lê Xuân Đ (lần đầu). Sau đó bà K1 và ông X tiếp tục khiếu nại và được giải quyết bằng Quyết định số 1455/QĐ-UBND ngày 05-5-2021, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ, về việc giải quyết đơn khiếu nại (lần hai).

[2.1]. Xét kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Xuân Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1.1]. Đối với Quyết định số 4287/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 của Ủy ban nhân dân huyện X về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Kiều Thị L:

Về thẩm quyền, tính hợp pháp của văn bản: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào khoản 3 Điều 62, Điều 66 và Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 xác định Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định số 4287/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật về đối tượng và hình thức. Thửa đất số 05, tờ bản đồ số 57, xã X, có diện tích 1.619,6 m² thửa 127, tờ bản đồ số 46, xã X, có diện tích 217,5 m² và thửa 128, tờ bản đồ 46, xã X, có diện tích 4.595,2 m² được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Kiều Thị L, có nguồn gốc hợp pháp do gia đình bà L khai phá và thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế, xã hội.

[2.1.2]. Về căn cứ đơn giá bồi thường, hỗ trợ:

Căn cứ vào đơn giá đất được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ phê duyệt theo Quyết định số 886/QĐ-UBND ngày 25/3/2020 xác định:

  • Diện tích 300m² đất, loại đất ở tại nông thôn vị trí 1 (đường N) thuộc một phần thửa đất số 05, tờ bản đồ số 57, bản đồ địa chính xã X với đơn giá 4.827.000 đồng/m², thành tiền 1.448.100.000 đồng.
  • Diện tích 823,6m² đất, loại đất trồng cây lâu năm vị trí 1 (đường N) thuộc một phần thửa đất số 05, tờ bản đồ số 57, bản đồ địa chính xã X với đơn giá 1.037.000 đồng/m², thành tiền 854.073.200 đồng.
  • Diện tích 496m² đất, loại đất nuôi trồng thủy sản vị trí 1 (đường N) thuộc một phần thửa đất số 05, tờ bản đồ số 57, bản đồ địa chính xã X với đơn giá 1.037.000 đồng/m², thành tiền 514.352.000 đồng.
  • Diện tích 4.595,2m² đất, loại đất trồng cây lâu năm vị trí 4 (đường nhóm 1), thửa đất số 128, tờ bản đồ số 46, bản đồ địa chính xã X với đơn giá 284.000 đồng/m², thành tiền 1.305.036.800 đồng.
  • Diện tích 217,5m² đất, loại đất trồng cây lâu năm vị trí 4 (đường nhóm 1), thửa đất số 127, tờ bản đồ số 46, bản đồ địa chính xã X với đơn giá 284.000 đồng/m², thành tiền 61.770.000 đồng.

Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất: 1.554.920.000 đồng; bồi thường về nhà, vật kiến trúc:

582.429.913 đồng; bồi thường về cây trồng, hoa màu: 74.459.250 đồng; bồi thường phí di chuyển: 6.000.000 đồng; thưởng chấp hành tốt chủ trương: 12.000.000 đồng.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Ủy ban nhân dân huyện X áp giá bồi thường cho hộ ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L là hợp lý, đúng quy định, phù hợp với giá bồi thường hỗ trợ do Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành khi thu hồi đất để thực hiện dự án.

Xét kháng cáo ông Lê Xuân Đ cho rằng giá đền bù thửa đất số 127 và 128 tờ bản đồ 46, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai phải thuộc vị trí số 1; và thưa đất số 05, tờ bản đồ 57, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai phải bồi thường theo giá thị trường là (300.000.000 đồng/mét ngang giáp Quốc lộ A x 36 mét) = 10.800.000.000 đồng) và phải bằng hộ bà L2 (liền kề) là không có căn cứ bởi lý do: Theo hồ sơ kỹ thuật của các thửa đất số 05, 127 và 128 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai lập ngày 22-10-2019 và Bản đồ địa chính xã X lập các năm 1996 và 2012 thể hiện: Các thửa đất 127 và 128, tờ bản đồ 46, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai không tiếp giáp đường hẻm, có vị trí nằm phía sau thửa 05, tờ bản đồ 57 (là thửa tiếp giáp mặt tiền đường Quốc lộ 1A); giữa thửa 05 và các thửa 127, 128 có 01 con suối. Theo kết quả xác minh của Thanh tra huyện X và Ủy ban nhân dân xã X tại Biên bản ngày 19-10-2020 (ông Lê Xuân Đ và bà Kiều Thị L có tham dự và ký tên vào biên bản) thể hiện: Giữa thửa 05 và các thửa 127, 128 có con mương thoát nước tự nhiên (trên bản đồ thể hiện là suối) đi qua, đúng như bản đồ địa chính thể hiện, không xây bờ kè, không có nắp đậy, mương cạn, mùa mưa có nước chảy, mùa nắng không có nước, chứ không thuộc trường hợp liền khoảnh.

[2.2]. Quyết định số 6138/QĐ-UBND ngày 25-11-2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X về việc giải quyết nội dung khiếu nại của bà Kiều Thị L và ông Lê Xuân Đ (lần đầu) và Quyết định số 1455/QĐ-UBND ngày 05-5-2021, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Xuân Đ, bà Kiều Thị L (lần 2).

Ông Lê Xuân Đ không đồng ý với Quyết định số 4287/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 của Ủy ban nhân dân huyện X nên khiếu nại và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X giải quyết khiếu nại lần đầu và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ giải quyết khiếu nại lần 2. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các Điều 14, Điều 18 Luật Khiếu nại để xem xét đối với Quyết định số 6138/QĐ-UBND (lần đầu) và Điều 15, Điều 21 của Luật Khiếu nại giải quyết đối với Quyết định số 1455/QĐ-UBND ngày 05-5-2021 (lần 2) là đúng về thẩm quyền và nội dung khiếu nại.

Căn cứ vào nội dung như đã phân tích tại [2.1.1] và [2.1.2] thì Quyết định số 4287/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 của Ủy ban nhân dân huyện X là phù hợp với quy định pháp luật. Trình tự thủ tục và ban hành giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ là hợp pháp, có căn cứ.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu kháng cáo của ông Lê Xuân Đ không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm; đề nghị của Viện kiện sát là có căn cứ nên chấp nhận.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4]. Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Lê Xuân Đ phải chịu án phí hành chính phúc thẩm nhưng do ông Đ là người cao tuổi nên được miễn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Xuân Đ; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 74/2023/HC-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Tuyên xử:

1. Áp dụng các điều 30, 115, 116, 193; khoản 1, Điều 157 và điểm b, khoản 2, Điều 157 Luật Tố tụng hành chính 2015.

Áp dụng các điều 62, 69, 74, 83, 84, 24 Luật Đất đai năm 2013; Các điều 7, 8, 9, 12, 14, 15, 18, 21, 28, 29, 30, 31, 32, 37, 40 Luật Khiếu nại; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ; Quyết định số 64/2014/QĐ-UBND ngày 22-12-2014; Quyết định số 78/2016/QĐ-UBND ngày 28-12-2016, Quyết định số 49/2019/QĐ-UBND ngày 31-12-2019; Quyết định 41/2019/QĐ-UBND ngày 16-10-2019, của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.

Áp dụng Điều 168 Luật Tố tụng hành chính 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí.

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Xuân Đ, bà Kiều Thị L đối với các Quyết định hành chính gồm:

  • Quyết định số 4287/QĐ-UBND ngày 29-7-2020 của Ủy ban nhân dân huyện X về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Kiều Thị L;
  • Quyết định số 6138/QĐ-UBND ngày 25-11-2020, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Xuân Đ, bà Kiều Thị L (lần đầu);
  • Quyết định số 1455/QĐ-UBND ngày 05-5-2021, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Xuân Đ, bà Kiều Thị L (lần 2).

2/. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

3/. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Lê Xuân Đ được miễn án phí.

4/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - NKK;
  • - NBK;
  • - Lưu: HS, VP, 25b TTPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Phạm Trí Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 406/2024/HC-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính về phê duyệt phương án bồi thường và quyết định giải quyết khiếu nại.

  • Số bản án: 406/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính về phê duyệt phương án bồi thường và quyết định giải quyết khiếu nại.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Xuân Đ kiện Ủy ban nhân dân huyện Xuân Lộc về “Khiếu kiện các quyết định hành chính về phê duyệt bồi thường và quyết định giải quyết khiếu nại”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Xuân Đ; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 74/2023/HC-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger