|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 406/2024/DS-PT Ngày: 12 - 6 - 2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn
Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 56/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
1. Nguyên đơn: Ông Trương Minh S, sinh năm 1947; Địa chỉ: Tổ H, ấp B, xã B, Tp P, Kiên Giang.
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đặng Việt A, sinh năm 1994; Địa chỉ liên hệ: Tổ A ấp S, xã D, Tp P, Kiên Giang.
2. Bị đơn:
- Ông Lê Đình Q, sinh năm 1972
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1978;
Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp B, xã B, Tp P, Kiên Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1955 (vợ ông S); Địa chỉ: Ấp B, xã B, Tp P, Kiên Giang; Địa chỉ liên hệ: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh An Giang
- Ông Trương Minh T (con ông S) (đã chết);
- Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1982 (vợ ông T); Địa chỉ: Tổ H, ấp B, xã B, Tp P, Kiên Giang.
- Anh Trương Minh N, sinh năm 2002 (con ông T); Địa chỉ: Ấp R, xã H, Tp P, tỉnh Kiên Giang.
- Chị Đỗ Minh T1, sinh năm 2006;
- Ông Trương Minh N1, sinh năm 1985 (con ông S);
- Ông Trương Minh T2, sinh năm 1977 (con ông S);
- U, tỉnh Kiên Giang; Địa chỉ: Số D đường C, khu phố A, phường D, Tp P, Kiên Giang.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T:
Người đại diện hợp pháp của chị T1: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1982;
Cùng địa chỉ: Tổ H, ấp B, xã B, Tp P, Kiên Giang.
Cùng địa chỉ: Tổ H, ấp B, xã B, Tp P, Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quang H1 – Chức vụ: Chủ tịch U, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Quang L1 – Chức vụ: Phó trưởng phòng T6, tỉnh Kiên Giang (Theo văn bản uỷ quyền ngày 27/3/2023).
4. Người kháng cáo: nguyên đơn ông Trương Minh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trương Minh S do người đại diện theo ủy quyền là ông Đặng Việt A trình bày:
Năm 1990 gia đình ông S khai khẩn diện tích khoảng 7.200m² (ngang 31m, dài 180m) tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Sau khi khai khẩn ông S canh tác, sử dụng liên tục, ổn định và không tranh chấp với ai. Khoảng năm 2002 – 2003, gia đình ông S cắt cho ông Lê Đình Q khoảng 1.695m² (15m rộng x 120m dài) nằm trong diện tích 7.200m². Chiều dài thửa đất của ông là 180m, trong khi cắt đất cho ông Q chiều dài khoảng 120m nên diện tích đất phía sau đất ông Q thì ông S vẫn quản lý sử dụng. Diện tích đất còn lại của ông S với đất của ông Q có mốc giới rõ ràng, ngăn cách bởi lối đi chung chiều rộng khoảng 1,5m và đất ông Q có cọc trụ gỗ nhưng hiện nay bị mục hết. Mục đích ông S cắt đất cho ông Q là để nhờ ông Q hỗ trợ ông S làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích nêu trên.
Năm 2006, ông S được UBND huyện U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AO 330678 ngày 25/7/2006 đối với đất diện tích 2.880m² tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Phần diện tích còn lại chưa được cấp giấy nhưng gia đình ông S vẫn quản lý sử dụng cho đến khi tranh chấp.
Năm 2009 vợ chồng ông Q làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.695m² mà gia đình ông S cho ông Q năm 2002 – 2003. Tuy nhiên ông Q kê khai với diện tích 1.950m² bao gồm cả lối đi chung (ngang phía trước 16,5m; hậu 18,22m; dài 113,33m) và được UBND huyện U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/7/2009, thuộc thửa đất 94, tờ bản đồ số 14. Diện tích được cấp tăng thêm 250m² so với diện tích gia đình ông S cho trước đây.
Đối với diện tích 2.880m² được cấp giấy thì năm 2012 ông S cắt 591,36m² để trả nợ thi hành án cho bà Lê Thị Út . Ngày 25/7/2013 ông S tiếp tục bán cho bà Lê Thị T3, diện tích 1.509,6m² ngang phía trước 10,4m; ngang phía sau 14,5m; chiều dài 125m. Diện tích còn lại gia đình ông S đang sử dụng. Đối với phần diện tích đất còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khoảng 2.370m² gia đình ông S vẫn tiếp tục quản lý, canh tác trồng tràm bông vàng, chuối. Trên phần đất này ông S có xây dựng 02 căn nhà cấp 4 cho 02 người con trai là Trương Minh T làm năm 2012 và Trương Minh N1 năm 2014. Ngoài ra trên đất có đào 01 cái giếng, gia đình ông S vẫn sử dụng ổn định, liên tục từ trước đến nay. Khoảng tháng 5/2020 hai người con trai của ông là Trương Minh T2 và Trương Minh N1 tiếp tục làm hai căn nhà tạm phía sau phần đất ông Q được cấp giấy năm 2009 thì vợ chồng ông Q ngăn cản vì cho rằng diện tích đất này ông Q được UBND huyện U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 417843 ngày 15/10/2014 đối với diện tích 732,1m², thuộc thửa đất số 201, tờ bản đồ số 14 (diện tích đất này nằm phía sau phần đất ông Q cấp giấy năm 2009).
Chính quyền địa phương đã cấp sổ đỏ cho vợ chồng ông Q đối với diện tích đất này trong khi gia đình ông S là người khai hoang, quản lý, sử dụng canh tác từ trước tới nay và không có chữ ký giáp ranh của gia đình ông S. Do quá trình làm thủ tục cấp giấy không đúng, cán bộ chính quyền địa phương không xuống đo đạc thực tế mà chỉ cấp trên sơ đồ, giấy tờ nên dẫn đến việc diện tích đất của ông Quảng cấp sang phần diện tích đất có căn nhà của con trai ông là Trương Minh T xây dựng vào năm 2012 và Trương Minh N1 xây dựng vào năm 2014.
Từ thời điểm Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đến nay không phát sinh thêm công trình xây dựng gì mới.
Nguyên đơn thống nhất theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và tờ trích đo, chứng thư định giá làm căn cứ giải quyết vụ án, không yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ hay định giá lại.
Nguyên đơn ông Trương Minh S khởi kiện yêu cầu:
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp lần đầu) số: BO 417843 do UBND huyện U cấp ngày 15/11/2014 cho vợ chồng ông Lê Đình Q, bà Lê Thị H đối với diện tích 732,1m² tại thửa đất số 201, tờ bản đồ số 14, tọa lạc ấp B, xã B, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang.
- Buộc vợ chồng ông Lê Đình Q, bà Lê Thị H trả lại diện tích 732,1m² tại thửa đất số 201, tờ bản đồ số 14, tọa lạc ấp B, xã B, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang cho ông Trương Minh S.
- Công nhận quyền sử dụng đất số: BO 417843 do UBND huyện U cấp ngày 15/11/2014 cho vợ chồng ông Lê Đình Q, bà Lê Thị H đối với diện tích 732,1m² tại thửa đất số 201, tờ bản đồ số 14, tọa lạc ấp B, xã B, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Trương Minh S.
* Theo đơn phản tố và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H trình bày:
Tháng 8/1993 ông về sinh sống tại ấp B, xã B, huyện P, tỉnh Kiên Giang cho đến nay. Gia đình ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy xanh) với diện tích 1.950m², trong đó có 400m² đất ở nông thôn, sau đó đổi sang sổ đỏ số AL 710545 cấp ngày 30/7/2009 đứng tên Lê Đình Q, Lê Thị H, gia đình ông canh tác sử dụng liên tục cho đến nay. Ranh giới thửa đất phía Bắc giáp đường đi, phía Nam giáp bà Phạm Thị N2 (nay là đường đi liên xóm), phía Đông giáp ông Nguyễn Văn T4, phía Tây giáp ông Trương Minh S.
Năm 2014 gia đình ông được cấp bổ sung diện tích 732,1m² phía sau hậu đất gia đình ông được cấp trước đây theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 417843 cấp ngày 15/10/2014, ranh giới đất gia đình ông và gia đình ông Trương Minh S đều thống nhất không tranh chấp mâu thuẫn gì, gia đình ông đã xây hàng rào (trụ xi măng bê tông, trụ cây nọc tiêu cũ, lưới B40).
Ngày 20/5/2020 bà Đỗ Thị L (con dâu ông S) mang đến nhà nhờ ông xác nhận để làm cơ sở xây nhà hộ nghèo cho bà L. Ông thấy sơ đồ kèm theo biên bản thì một phần diện tích nhà bà L nằm trong GCN QSDĐ của gia đình ông nên ông không đồng ý ký và yêu cầu đợi liên hệ lại sau với UBND xã rồi mới ký. Tuy nhiên khi ông chưa kịp làm việc với UBND xã thì gia đình ông S đã phá dỡ hàng rào trụ bê tông, lưới B40, chặt phá một số cây tràm trên đất gia đình ông. Gia đình ông ngăn cản thì bị hăm dọa, chửi bới. Gia đình ông có làm đơn gửi UBND xã, Công an xã B tới lập biên bản. Sau đó gia đình ông S trồng 1 số cây chuối, xây chuồng gà và 1 số công trình trên đất như hiện trạng hiện nay.
Đề nghị Tòa tiến hành thẩm tra, xác minh nguồn gốc đất đã cấp cho gia đình ông và thu thập quy trình, thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông, quy trình thủ tục hòa giải tại UBND xã B là có đúng quy định của pháp luật không.
Bị đơn thống nhất theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và tờ trích đo, chứng thư định giá làm căn cứ giải quyết vụ án, không yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ hay định giá lại.
Bản gốc GCN QSDĐ đứng tên Lê Đình Q, Lê Thị H hiện đang do vợ chồng ông quản lý, cam kết không cầm cố, thế chấp hay tặng cho cho tổ chức, cá nhân nào.
Bị đơn ông Lê Đình Q, bà Lê Thị H có yêu cầu phản tố:
- Công nhận diện tích đất 732,1m² thuộc thửa đất số 201, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại Ấp B, xã B, Tp P, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 417843 cấp ngày 15/10/2014 thuộc quyền quản lý và sử dụng hợp pháp của ông Q, bà H.
- Buộc gia đình ông S giao trả lại diện tích đất 732,1m² thuộc thửa đất số 201, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại Ấp B, xã B, Tp P, tỉnh Kiên Giang cho gia đình ông Q và bà H.
- Yêu cầu gia đình ông S tháo dỡ, phá dỡ, di dời nhà chòi, chuồng gà, cây trồng ra khỏi diện tích đất 732,1m² thuộc thửa đất số 201, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại Ấp B, xã B, Tp P, tỉnh Kiên Giang đã bao chiếm trái phép của gia đình ông Q và bà H.
- Buộc gia đình ông S chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của gia đình ông Q và bà H.
- Buộc gia đình ông S bồi thường thiệt hại tài sản số tiền 15.000.000 đồng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện U có ý kiến tại Công văn số 453/UBND-NCPC ngày 18/6/2022 như sau:
Theo hồ sơ lưu trữ do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P cung cấp: UBND huyện U (nay là thành phố P) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 330678, cấp ngày 25/7/2006 cho ông Trương Minh S và bà Nguyễn Thị P, diện tích 2.880m², mục đích sử dụng đất: đất trồng cây công nghiệp lâu năm, tại ấp B, xã B, huyện P, tỉnh Kiên Giang là cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, thuộc trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 4 Điều 50, Luật Đất đai năm 2003. Cấp theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 135 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 710545: Ngày 05/02/1996 ông Lê Thanh Q1 (Lê Đình Q) được UBND huyện U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 100243/QSDĐ/11/QĐ- UB, thửa đất số 103, tờ bản đồ số 06, diện tích 1.950m², tại ấp B, xã B, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Ngày 06/4/2005, ông Lê Đình Q làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp đổi) thửa đất nêu trên. Ngày 16/8/2005 UBND huyện U ra Quyết định số 2074/QĐ-UB về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Đình Q đối với thửa đất số 103, tờ bản đồ số 06, tại ấp B, xã B, huyện P, tỉnh Kiên Giang, diện tích 1.950m², mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn 400m (ONT), còn lại đất trồng hàng năm, đồng thời cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 371766.
Ngày 12/8/2007, ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H làm đơn xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đo đạc thực tế thửa đất số 94, tờ bản đồ số 14, diện tích 2.710,4m² (tăng 760,4m² so với diện tích đã cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 371766) được Hội đồng tư vấn giao đất và Đăng ký đất đai xã B xét duyệt tại biên bản số 01/BB-XDHĐ ngày 09/4/2008. Ngày 30/7/2009, UBND huyện U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 710545 cho ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H thửa đất số 94, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.950,0m² tại ấp B, xã B, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
Việc UBND huyện U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 710545 cho ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H là cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo trình tự thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại Điều 144 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 19/10/2004.
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 417843: Ngày 30/9/2013, ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thửa đất số 201, tờ bản đồ số 14, diện tích 732,1m² tại ấp B, xã B, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Được UBND xã B lấy ý kiến khu dân cư ngày 18/9/2013; thông qua Hội đồng tư vấn giao đất và Đăng ký đất đai xã B xét duyệt đợt 24, ngày 26/11/2013.
Ngày 15/10/2014, UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 417843, thửa đất số 201, tờ bản đồ số 14, diện tích 732,1m², loại đất: đất trồng cây lâu năm, tại ấp B, xã B, huyện P, tỉnh Kiên Giang cho ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H.
Việc UBND huyện U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp lần đầu) số BO 417843 ngày 15/10/2014 cho ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H là cấp theo trình tự thủ tục Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.
Qua kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H, được UBND xã B xác nhận hiện trạng sử dụng đất không tranh chấp. Sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H đến nay UBND thành phố Phú Quốc chưa nhận được đơn khiếu nại về việc cấp giấy.
Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H sử dụng đất có nguồn gốc: đất nông nghiệp do ông Q khai khẩn, sử dụng từ tháng 6/1993, sử dụng đến nay. Trường hợp sử dụng đất của ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H là đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2, Điều 101, Luật Đất đai 2013; khoản 5 Điều 20 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P trình bày:
Bà là vợ của ông Trương Minh S. Toàn bộ diện tích đang tranh chấp khoảng 850m² tọa lạc tại ấp B, xã B, Tp P, tỉnh Kiên Giang nằm trong phần diện tích khoảng 7.200m² có nguồn gốc là do vợ chồng bà khai khẩn năm 1990. Sau khi khai khẩn vợ chồng bà canh tác, sử dụng liên tục, ổn định và không tranh chấp với ai.
Khoảng năm 2002 - 2003 vợ chồng bà cắt cho ông Lê Đình Q khoảng 1.695m² (chiều ngang 15m x chiều dài 120m) nằm trong diện tích 7.200m². Mục đích cắt đất cho ông Q là để nhờ ông Q hỗ trợ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích nêu trên.
Năm 2006, vợ chồng bà được UBND huyện U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số: AO 330678 ngày 25/7/2006 đối với diện tích đất 2.880m² tọa lạc tại ấp B, xã B, Tp P, tỉnh Kiên Giang.
Năm 2009, vợ chồng ông Q được UBND huyện U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà gia đình bà cho ông Q năm 2002 – 2003. Tuy nhiên ông Q kê khai với diện tích 1.950m² bao gồm cả lối đi chung diện tích được cấp tăng thêm 250m² so với diện tích vợ chồng bà cho trước đây.
Đối với diện tích 2.880m² được cấp GCN QSDĐ thì năm 2012 vợ chồng bà đã cắt 591,36m² để trả nợ thi hành án cho bà Lê Thị Út . Ngày 25/7/2013 tiếp tục bán cho bà Lê Thị T3 diện tích 1.509,6m² (chiều ngang phía trước 10,4m; chiều ngang phía sau 14,5m; chiều dài 125m). Diện tích còn lại gia đình bà đang sử dụng.
Đối với phần diện tích đất còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khoảng 2.370m² gia đình bà vẫn tiếp tục quản lý, canh tác trồng tràm bông vàng, chuối. Trên phần đất này có 02 căn nhà cấp 4 trong đó: 01 căn nhà do Trương Minh T và Đỗ Thị L xây dựng năm 2012 và 01 căn nhà của Trương Minh N1 xây dựng đầu năm 2014. Ngoài ra trên đất có đào 01 cái giếng, gia đình bà sử dụng ổn định, liên tục từ trước đến nay có những người hàng xóm xung quanh đều biết. Đến nay ông Q vào tranh chấp là không đúng.
Đối với vụ việc tranh chấp này bà P có ý kiến như sau: Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Minh S. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Bà P đề nghị giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
* Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Minh T là bà Đỗ Thị L trình bày:
Bà là vợ của ông Trương Minh T, bà và ông T chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn. Ông Trương Minh T đã chết ngày 04/10/2018 (theo trích lục khai tử số: 06/TLKT-BS ngày 04/01/2019 của UBND xã B, Tp P. Ông T là con của ông Trương Minh S. Lúc còn sống, ông T và bà Phạm Thị Chúc L2 (bà L2 hiện đã chết) có 01 con chung là Trương Minh N. Ông T và bà L có 01 con chung là Đỗ Minh T1. Ngoài ra ông T không còn người con nào khác.
Năm 2012 cha chồng của bà là ông S có cho vợ chồng bà 01 phần diện tích đất khoảng 80m², tọa lạc tại ấp B, xã B, Tp P, tỉnh Kiên Giang để xây dựng căn nhà cấp 4. Năm 2018 ông T qua đời, hiện phần diện tích đất và căn nhà cấp 4 nêu trên nằm trong phần diện tích đang tranh chấp. Bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Minh S. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Bà L đề nghị giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Minh N1, ông Trương Minh T2 thống nhất trình bày:
Cha mẹ ông là ông Trương Minh S và bà Trương Thị P1. Cha mẹ ông có 3 người con gồm: Trương Minh T2, Trương Minh T (đã chết); Trương Minh N1.
Hiện nay toàn bộ diện tích đang tranh chấp khoảng 850m² tọa lạc tại ấp B, xã B, Tp P, tỉnh Kiên Giang, nằm trong phần diện tích khoảng 7.200m² có nguồn gốc là do cha mẹ của ông khai khẩn năm 1990. Sau khi khai khẩn cha mẹ ông canh tác, sử dụng liên tục, ổn định và không tranh chấp với ai.
Khoảng năm 2002 – 2003, cha mẹ ông cắt cho ông Lê Đình Q khoảng 1.695m² (chiều ngang 15m x chiều dài 120m) nằm trong diện tích 7.200m². Mục đích cắt đất cho ông Q là để nhờ ông Q hỗ trợ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích nêu trên.
Năm 2006, cha mẹ ông được UBND huyện U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số: AO 330678 ngày 25/7/2006 đối với đất diện tích 2.880m² tọa lạc tại ấp B, xã B, Tp P, tỉnh Kiên Giang.
Năm 2009 vợ chồng ông Q được UBND huyện U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà gia đình ông cho ông Q năm 2002 – 2003. Tuy nhiên ông Q kê khai với diện tích 1.950m² bao gồm cả lối đi chung diện tích được cấp tăng thêm 250m² so với diện tích cha mẹ ông cho trước đây.
Đối với diện tích 2.880m² được cấp GCN QSDĐ thì năm 2012 vợ chồng bà đã cắt 591,36m² để trả nợ thi hành án cho bà Lê Thị Út . Ngày 25/7/2013 tiếp tục bán cho bà Lê Thị T3 diện tích 1.509,6m² (chiều ngang phía trước 10,4m; chiều ngang phía sau 14,5m; chiều dài 125m). Diện tích còn lại gia đình ông đang sử dụng.
Đối với phần diện tích đất còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khoảng 2.370m² gia đình ông vẫn tiếp tục quản lý, canh tác trồng tràm bông vàng, chuối. Trên phần đất này có 02 căn nhà cấp 4 trong đó: 01 căn nhà do ông Trương Minh T và bà Đỗ Thị L xây dựng năm 2012 và 01 căn nhà của ông Trương Minh N1 xây dựng đầu năm 2014. Ngoài ra trên đất có đào 01 cái giếng, gia đình ông sử dụng ổn định, liên tục từ trước đến nay có những người hàng xóm xung quanh đều biết.
Khoảng tháng 5/2020 ông N1 và ông T2 tiếp tục làm 02 căn nhà tạm thì bà H (vợ ông Q) ngăn cản vì cho rằng diện tích đất này vợ chồng bà được UBND huyện U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nên xảy ra tranh chấp.
Đối với vụ việc tranh chấp này ông T2, ông N1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Minh S. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Ông T2, ông N1 đề nghị giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 74/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, quyết định:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 3, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 163, Điều 164 và Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Minh S về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp lần đầu) số: BO 417843 do UBND huyện U cấp ngày 15/11/2014 cho vợ chồng ông Lê Đình Q, bà Lê Thị H đối với diện tích 732,1m² (đo đạc thực tế 996,5m²) tại thửa đất số 201, tờ bản đồ số 14, tọa lạc ấp B, xã B, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang. Buộc vợ chồng ông Lê Đình Q, bà Lê Thị H trả lại diện tích 732,1m² (đo đạc thực tế 996,5m²) tại thửa đất số 201, tờ bản đồ số 14, tọa lạc ấp B, xã B, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang cho ông Trương Minh S. Công nhận quyền sử dụng đất số: BO 417843 do UBND huyện U cấp ngày 15/11/2014 cho vợ chồng ông Lê Đình Q, bà Lê Thị H đối với diện tích 732,1m² (đo đạc thực tế 996,5m²) tại thửa đất số 201, tờ bản đồ số 14, tọa lạc ấp B, xã B, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Trương Minh S.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với nguyên đơn ông Trương Minh S.
- Công nhận cho bị đơn ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H được quyền sử dụng diện tích đất 732,1m² (đo đạc thực tế 996,5m²) tọa lạc tại ấp B, xã B, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Buộc ông Trương Minh S và những người có liên quan đang quản lý diện tích đất đang tranh chấp (nếu có) giao trả lại diện tích đất 732,1m² (đo đạc thực tế 996,5m²) thuộc thửa đất số 201, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại Ấp B, xã B, Tp P, tỉnh Kiên Giang cho ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H.
- Buộc ông Trương Minh S và những người có liên quan đang quản lý diện tích đất đang tranh chấp (nếu có) di dời toàn bộ cây trồng trên đất và chuồng gà, nhà tạm, các tài sản phát sinh (nếu có) theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, giao trả diện tích đất và chấm dứt hành vi cản trở bị đơn ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H.
- + Cạnh 3 – 4 = 8,42m; 4 – 5 = 37,04m: giáp đất ông Nguyễn Văn H2;
- + Cạnh 5 – 6 = 23,91m: giáp lộ xóm;
- + Cạnh 6 – 7 = 38,23m; 7 – 8 = 9,38m: giáp đất ông Trương Minh S;
- + Cạnh 8 – 3 = 20,79m: giáp diện tích đất không tranh chấp ông Q sử dụng.
- Diện tích đất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/01/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang diện tích đất có số đo cụ thể:
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H về việc “Bồi thường thiệt hại tài sản” đối với nguyên đơn ông Trương Minh S về yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 15.000.000 đồng.
- Về chi phí thu thập hồ sơ:
- Về chi phí định giá tài sản:
- Về án phí:
Buộc nguyên đơn ông Trương Minh S phải chịu chi phí thu thập hồ sơ số tiền 750.000 đồng theo biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0007627 ngày 07/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Nguyên đơn ông Trương Minh S đã nộp đủ.
Buộc nguyên đơn ông Trương Minh S phải chịu chi phí định giá tài sản số tiền 7.000.000 đồng theo hóa đơn GTGT số 314 ngày 30/3/2023 của Công ty cổ phần T7. Nguyên đơn ông Trương Minh S đã nộp đủ.
Buộc bị đơn ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 750.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 375.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009771 ngày 07/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang. Ông Q, bà H còn phải nộp số tiền 375.000 đồng.
Nguyên đơn ông Trương Minh S là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí, có đơn yêu cầu xin miễn giảm án phí nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
Bản án số 406/2024/DS-PT ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại tài sản
- Số bản án: 406/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Minh S về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với bị đơn ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Đình Q và bà Lê Thị H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với nguyên đơn ông Trương Minh S.
