|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 405/2023/HSPT Ngày: 28/11/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Thẩm phán:
- Ông Lê Công Huân.
- Ông Bùi Đức Nam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Hưng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 384/2023/HSPT ngày 23/10/2023 đối với bị cáo Lê Thị T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 156/2023/HSST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Thị T; sinh năm: 1970; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; nơi đăng ký thường trú: 30 đường Đ, tổ A, Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Lê Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị G (chết); chồng: Đặng Minh C; con: có 03 người con (lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2003); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”
- Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:
Bị hại: Bà Lê Thị Á, sinh năm 1960; nơi cư trú: 26 đường Đ, Tổ A, Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không liên quan đến kháng cáo: Không triệu tập.
NHẬN THẤY
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Thị T, bà Lê Thị Á và bà Lê Thị N là 03 chị em ruột, có mâu thuẫn trong việc tranh chấp tài sản do cha mẹ để lại và thường xuyên phát sinh mâu thuẫn trong sinh hoạt gia đình.
Vào khoảng 13h00' ngày 29/3/2022, do mâu thuẫn trong sinh hoạt gia đình nên Lê Thị T cùng ông Đặng Minh C (chồng T), Phạm Văn H (thông gia với T), Đặng Lê Minh D (con ruột T), Phạm Ngọc Thủy T1 (con dâu T) cùng đi đến địa chỉ số B, đường Đ, tổ A, Khu phố F, phường T, Quận A để gặp bà Lê Thị Á và bà Lê Thị N (đều là chị ruột của T) nói chuyện thì xảy ra gây gổ giữa gia đình T với bà Á và bà N. Lê Thị T dùng tay đánh vào vùng mặt và tay bà Lê Thị Á, còn bà Á dùng tay đánh trúng tay T. Lúc này, bà N xông tới dùng tay đánh T, còn T1 và D đẩy bà N ra; D và T1 dùng tay đánh trúng vùng đầu và vai bà N. Bà N cầm 01 cái xô (dùng để đốt vàng mã) bằng kim loại ném về phía T thì Thu nhặt cái xô lên cầm bằng tay phải định ném trả bà N nhưng bà Á đưa tay ngăn cản nên bị T đánh trúng vào vùng trán và tay gây thương tích. Sau đó, C và H can ngăn nên gia đình T bỏ đi, còn bà Á và bà N được được đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đ. Sự việc được Công an phường T, Quận A lập hồ sơ xử lý.
Ngày 29/3/2022, bà Lê Thị Á và bà Lê Thị N có đơn đề nghị giám định thương tích, còn Lê Thị T có đơn không yêu cầu giám định thương tích.
Kết quả giám định của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Thành phố H thể hiện tại các bản kết luận giám định pháp y về thương tích và kết luận giám định bổ sung số 389/TgT.22 ngày 25/5/2022, số 297/TgT.22 ngày 25/4/2022, số 389.13/TgT.22 ngày 20/7/2022 và số 4265/KL-KTHS ngày 03/8/2022, kết luận:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Lê Thị Á là 8%.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Lê Thị N là 0%.
- Các thương tích nêu trên không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.
- Cái xô gửi giám định khi sử dụng tác động lên cơ thể người gây thương tích là hung khí nguy hiểm.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo Lê Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu trên.
+Vật chứng thu giữ: 01 cái xô bằng kim loại, đường kính (miệng 30cm; đáy 20cm), chiều cao 23cm, phần thân xô có nhiều lỗ tròn, có quai xách bằng kim loại; 01 USB ghi lại diễn biến nội dung vụ án (kèm theo hồ sơ vụ án).
Bị hại Lê Thị Á yêu cầu giải quyết phần bồi thường về dân sự tại Tòa án.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 156/2023/HSST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Lê Thị T 06 (sáu) tháng tù, về tội: “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/9/2023, bị cáo Lê Thị T gửi đơn kháng cáo bản án sơ thẩm nêu trên xin giảm nhẹ hình phạt vì cấp sơ thẩm xử phạt quá nặng, chưa xem xét khách quan toàn diện vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Lê Thị Thu g nguyên yêu cầu kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm và phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích về tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cũng như các tình tiết định khung và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đã kết luận cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Lê Thị T, phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo trong thời gian luật định và hợp lệ nên được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Xét, bị hại Lê Thị Á đã tự nguyện rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo Lê Thị T nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 155 và Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ vụ án đối với Lê Thị T; hủy bản án hình sự sơ thẩm đã xét xử đối với Lê Thị T, về tội “Cố ý gây thương tích".
Bị cáo Lê Thị T không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bản thân đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và mong muốn có cơ hội để sửa chữa, làm lại cuộc đời.
Bị hại Lê Thị Á trình bày ngày 28/9/2023 đã gửi đơn rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo Lê Thị T và việc rút yêu cầu khởi tố là tự nguyện nên đề nghị Tòa án xem xét hủy bản án hình sự sơ thẩm vì bị cáo Lê Thị T là em ruột của mình.
XÉT THẤY
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đối chiếu lời khai nhận nhận của bị cáo Lê Thị T tại phiên tòa phù hợp nội dung bản án sơ thẩm và bản Cáo trạng truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ: Biên bản tiếp nhận nguồn tin tố giác tội phạm, các biên bản (tạm giữ đồ vật - tài liệu, niêm phong vật chứng), bản kết luận giám định pháp y về thương tích, trích xuất dữ liệu hình ảnh camera, lời khai của bị hại, cùng các tài liệu, biên bản về hoạt động tố tụng khác của Cơ quan điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án.
Xét, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 13h00' ngày 29/3/2022, tại địa chỉ số B, đường Đ, Tổ A, Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Lê Thị T đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là 01 cái xô bằng kim loại để tấn công đánh trúng vào vùng trán và tay của bà Lê Thị Á, gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08% (tám phần trăm).
Ngày 29/3/2022 bà Lê Thị Á có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Lê Thị T (bút lục 51).
[2] Như vậy, với hậu quả đã gây trong vụ án và hành vi nêu trên của bị cáo Lê Thị T đã phạm tội thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11%”, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Thị T, phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[3] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và hợp lệ theo quy định tại Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 nên về hình thức được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Xét, bị cáo Lê Thị T có hành vi gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật là 08%, bị khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); vụ án thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại nhưng sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại đã có đơn đề nghị rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo Lê Thị T và tại phiên tòa trình bày việc rút yêu cầu này là đúng với ý chí của bản thân, tự nguyện và không bị ai ép buộc.
Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Đình chỉ vụ án hình sự đối với Lê Thị T, về hành vi “Cố ý gây thương tích” cho bà Lê Thị Á; hủy bản án hình sự sơ thẩm đã xét xử đối với Lê Thu T, về tội “Cố ý gây thương tích” nên không xem xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Theo đó, đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên cấp sơ thẩm không có lỗi làm oan sai trong việc xét xử đối với bị cáo Lê Thị T và bà Lê Thị Á không có quyền yêu cầu lại.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; do vụ án bị đình chỉ vì bị hại đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố về hình sự nên bà Lê Thị Á phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng; bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm - theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 155 và khoản 2 Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 156/2023/HS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử đối với bị cáo Lê Thị T, về tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Đình chỉ vụ án hình sự về hành vi “Cố ý gây thương tích” của Lê Thị T cho bà Lê Thị Ánh .
- Hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 260/LCĐKNCT ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đối với Lê Thị T.
2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Lê Thị Á phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng. Nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |
5
6
Bản án số 405/2023/HSPT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 405/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 156/2023/HS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử đối với bị cáo Lê Thị T, về tội: “Cố ý gây thương tích
