|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 405/2023/DS-PT
Ngày 28-8-2023
V/v tranh chấp về hợp đồng
dân sự mua bán tài sản và
thực hiện nghĩa vụ tài sản do
người chết để lại
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Thành.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tấn Tặng
Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Ngọc Trang,
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Vào ngày 13/01; 07/02; 24/8; 28 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 319/2022/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2022/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 411/2022/QĐ-PT ngày 30 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Mai Thị Kim T (Chủ hộ kinh doanh Mai Thị Kim T), sinh năm 1982.
Địa chỉ: Số C, khu phố B, Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ liên hệ: Số B, Quốc lộ C, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Cao H, sinh năm 1994; Địa chỉ liên hệ: Số B, Quốc lộ C, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Mai T1 - Công ty L1 và Cộng sự, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp.
-
Bị đơn:
- Bà Dương Thị Mỹ H1, sinh năm 1970;
- Ông Huỳnh Chí T2, sinh năm 1995;
- Ông Huỳnh Chí N, sinh năm 1997.
Cùng địa chỉ: Đường số F, cụm D, khóm E, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị H2, sinh năm 1947.
Địa chỉ: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Bà Mai Thị Kim T, ông Huỳnh Chí N.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn, luật sư Mai T1 trình bày: Trong quá trình kinh doanh đại lý thức ăn chăn nuôi K. Bà Mai Thị Kim T có bán thức ăn thủy sản cho hộ ông Huỳnh Văn M để nuôi trồng thủy sản nhiều năm. Quá trình mua bán, giao nhận hàng hóa đều có ký nhận, xuất hóa đơn bán hàng cho hộ gia đình ông M. Về phương thức thanh toán, hộ gia đình ông M sẽ thanh toán khi bán cá, hộ gia đình ông M có thanh toán tiền cho bà T nhưng vẫn chưa thanh toán hết số tiền còn nợ. Tính đến ngày 01/10/2020, hộ gia đình ông M còn nợ bà T số tiền 2.699.720.000 đồng; ngày 10/10/2020, hộ gia đình ông M tiếp tục mua hàng của bà T với số tiền 100.800.000 đồng, tổng cộng số tiền mà hộ gia đình ông M còn nợ là 2.800.520.000đồng (kèm theo Biên bản đối chiếu công nợ từ ngày 01/10/2020 đến ngày 31/10/2020); ngày 31/10/2020, ông M đã trả được 198.200.000 đồng, còn lại 2.602.320.000 đồng; sau đó, ông M mua thêm theo hóa đơn bán hàng đề ngày 03/11/2020 với số tiền 148.220.000 đồng và hóa đơn bán hàng đề ngày 24/11/2020 với số tiền 115.600.000 đồng, tổng cộng là 2.866.140.000 đồng, ông M trả được 300.000.000 đồng, ông M còn nợ lại gốc 2.566.140.000 đồng.
Tuy nhiên, bà T đã nhiều lần yêu cầu hộ gia đình ông M trả tiền, nhưng đến nay, hộ gia đình ông M vẫn chưa trả số tiền nêu trên. Đồng thời, năm 2021, ông Huỳnh Văn M đã chết, hàng thừa kế thứ nhất của ông M gồm có bà Dương Thị Mỹ H1 (vợ ông M), ông Huỳnh Chí T2 (con ông M), ông Huỳnh Chí N (con ông M) và bà Lê Thị H2 (mẹ ông M).
Tại phiên tòa, Luật sư Mai T1 yêu cầu bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí T2, ông Huỳnh Chí N và bà Lê Thị H2 là những người thực hiện tài sản do người chết (ông Huỳnh Văn M) để lại và phải liên đới trả cho bà Mai Thị Kim T (chủ hộ kinh doanh Mai Thị Kim T) số tiền mua bán thức ăn thủy sản còn thiếu gốc 2.566.140.000 đồng (hai tỷ năm trăm sáu mươi sáu triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) và tiền lãi tính đến nay (ngày 22 - 9 - 2022) là 512.912.147 đồng (lãi suất 0,83%/tháng), tổng cộng 3.079.056.147 đồng và tiếp tục chịu lãi 0,83%/tháng kể từ ngày 23-9-2022 cho đến khi thi hành án xong; tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn là ông Huỳnh Chí N trình bày: Không thống nhất với lời trình bày và toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn về quá trình mua bán và số tiền hiện còn thiếu; ông N không biết bà Mai Thị Kim T là ai và không hề có quan hệ mua bán nào với bà T. Ông N yêu cầu bà Mai Thị Kim T xuất trình đầy đủ các hợp đồng mua bán bản gốc và các hóa đơn đỏ, có chữ ký của các bên. Đối với biên bản đối chiếu công nợ, ông N không thống nhất vì không xác định được đó có phải là chữ ký của ông Huỳnh Văn M (cha ông N) hay không, việc làm ăn, mua bán của ông M (cha ông N), gia đình ông N không hề biết. Tuy nhiên, ông N không yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký của ông Huỳnh Văn M trong biên bản đối chiếu công nợ, hóa đơn bán hàng đề ngày 03/11/2020 và hóa đơn bán hàng đề ngày 24/11/2020.
* Tại Quyết định bản án sơ thẩm số 52/2022/DS-ST, ngày 22/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự đã tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc buộc hộ ông Huỳnh Văn M có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn số tiền mua thức ăn còn thiếu tổng cộng 3.047.660.000 đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí T2, ông Huỳnh Chí N và bà Lê Thị H2 có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi giá trị tài sản do ông Huỳnh Văn M chết để lại trả cho bà Mai Thị Kim T (chủ hộ kinh doanh Mai Thị Kim T) số tiền gốc 2.566.140.000 đồng và tiền lãi là 481.520.000 đồng, tổng cộng 3.047.660.000 đồng (Ba tỷ không trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bà Mai Thị Kim T (chủ hộ kinh doanh Mai Thị Kim T) có đơn yêu cầu thi hành án, mà bà Lê Thị H2, bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí T2, ông Huỳnh Chí N chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 01/2022/QĐ-BPKCTT ngày 17 tháng 01 năm 2022 và Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 02/2022/QĐ-BPKCTT ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và thi hành án.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 26/9/2022, ông Huỳnh Chí N kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm số: 52/2022/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 28/9/2022, bà Mai Thị Kim T kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm số: 52/2022/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự theo hướng: Buộc hộ gia đình ông Huỳnh Văn M, bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí N, ông Huỳnh Chí T2, bà Lê Thị H2 liên đới trả tiền nợ gốc là 2.566.140.000 đồng, tiền lãi 10%/năm, tạm tính từ ngày 30/10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 22/9/2022 là 512.912.174 đồng, tổng cộng số tiền gốc và lãi là 3.079.052.174 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày 23/9/2022 cho đến khi trả hết số tiền còn nợ nêu trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Huỳnh Chí N trình bày: Ông N thống nhất với kết luận giám định chữ ký của ông M trong các hóa đơn bán hàng, thống nhất với quyết định bản án sơ thẩm nên ông N tự nguyện rút toàn bộ đơn kháng cáo, yêu cầu Hội đồng xét xử đình chỉ kháng cáo của ông N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ông Nguyễn Cao H trình bày: Ông H người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất với phần lãi suất theo quyết định bản án sơ thẩm tuyên nên ông H tự nguyện xin rút một phần kháng cáo đối với số tiền lãi suất, thống nhất với tiền lãi suất (tiền lãi là 481.520.000 đồng). Ông H yêu cầu Hội đồng xét xử đình chỉ một phần kháng cáo, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, buộc bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí T2, ông Huỳnh Chí N và bà Lê Thị H2 liên đới trả nợ tiền mua thức ăn thủy sản còn thiếu của ông M đến ngày 13/7/2021 với số tiền gốc là 2.566.140.000 đồng và tiền lãi là 481.520.000 đồng, tổng cộng 3.047.660.000 đồng, sửa bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận kháng cáo buộc bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí T2, ông Huỳnh Chí N và bà Lê Thị H2 liên đới trả nợ tiền mua thức ăn thủy sản còn thiếu của ông M đến ngày 13/7/2021 với số tiền gốc là 2.566.140.000 đồng và tiền lãi là 481.520.000 đồng, tổng cộng 3.047.660.000 đồng, sửa bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo chấp đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Chí N, đình chỉ một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Mai Thị Kim T. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị Kim T, tuyên y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, được kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Mai Thị Kim T, ông Huỳnh Chí N đúng về hình thức, nội dung được nộp trong hạn luật định, nên kháng cáo của bà T, ông N được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Các bị đơn bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí T2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Nguyên đơn bà Mai Thị Kim T khởi kiện yêu cầu những thành viên hộ gia đình ông Huỳnh Văn M là bà Lê Thị H2, bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí N và ông Huỳnh Chí T2 cùng liên đới trả nợ cho bà T số tiền gốc là 2.566.140.000 đồng, tiền lãi 512.912.147 đồng theo biên bản đối chiếu công nợ từ ngày 01/10/2020 đến ngày 31/10/2020 và hóa đơn bán hàng ngày 03/11/2020, 24/11/2020.
Xét thấy, Nguyên đơn khởi kiện xác định bà Kim T có thực hiện giao dịch bán thức ăn với ông M thông qua các hóa đơn bán hàng do Huỳnh Văn M ký nhận hàng; biên bản đối chiếu công nợ (từ ngày 01/10/2020 đến ngày 31/10/2020) đề ngày 31/10/2020 giữa bên A là chị Mai Thị Kim T với bên B là ông Huỳnh Văn M thể hiện ông Huỳnh Văn M còn nợ Đại lý thức ăn chăn nuôi Kim T số tiền là 2.800.520.000 đồng (trong đó, ông M đã trả được 198.200.000 đồng (phiếu thu tiền mặt ngày 31/10/2020), còn lại 2.602.320.000 đồng; 01 (một) hóa đơn bán hàng đề ngày 03/11/2020 với số tiền 148.220.000 đồng và 01 (một) hóa đơn bán hàng đề ngày 24/11/2020 với số tiền 115.600.000 đồng, tổng cộng là 2.866.140.000 đồng và ngày 13/7/2021, ông M trả được 300.000.000 đồng (phiếu thu tiền mặt ngày 13/7/2021), ông M còn thiếu lại tiền mua thức ăn là 2.566.140.000 đồng.
Ngày 18/11/2021, ông M chết và không để lại di chúc, sau khi ông M chết thì ngày 30/12/2021 các người đồng thừa kế của ông M là bà Lê Thị H2, bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí N và ông Huỳnh Chí T2 có lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản của ông M và hộ ông M là thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41, diện tích 67,2m², đất ở đô thị nhà ở trên đất diện tích 138,18m² (nhà cấp IV, xây dựng năm 2009, khung BTCT, sàn BTCT, tường gạch, mái BTCT, 02 tầng), tọa lạc tại phường A, thành phố H cho ông Huỳnh Chí N được thừa hưởng toàn bộ khối tài sản này, kể cả việc định đoạt, toàn quyền sử dụng di sản của hộ ông Huỳnh Văn M (nhưng chưa sang tên cho ông N đứng tên), theo văn bản phân chia di sản này thì tài sản này chưa thuộc quyền sở hữu của cá nhân ông N nhưng ông N kháng cáo không đồng ý dùng tài sản này để đảm bảo trả nợ cho ông M.
Nguyên đơn bà Mai Thị Kim T cho rằng ông M đã thống nhất ký xác nhận trong Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/10/2020, và tại các tài liệu sau:
- Hóa đơn bán hàng ngày 08/6/2020, ngày 11/6/2020, ngày 13/6/2020; ngày 19/6/2020 và ngày 19/6/2020 (05 hóa đơn) và ông M đã đối chiếu công nợ ngày 30/6/2020 thì số tiền ông M còn nợ là 500.240.000đ và ông M đã ký tên vào Biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/6/2020.
- Các Hóa đơn bán hàng ngày 11/7/2020, ngày 17/7/2020, ngày 23/7/2020, ngày 25/7/2020, ngày 31/7/2020, ngày 07/8/2020, ngày 08/8/2020, ngày 11/8/2020, ngày 13/8/2020, ngày 18/8/2020, ngày 20/8/2020, ngày 24/8/2020, ngày 28/8/2020, ngày 05/9/2020, ngày 11/9/2020, ngày 12/9/2020, ngày 15/9/2020, ngày 21/9/2020, ngày 26/9/2020, ngày 10/10/2020 và ông M đã đối chiếu công nợ ngày 31/10/2020 thì số tiền ông M còn nợ là 2.800.520.000đ và ông M đã ký tên vào Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/10/2020. Tiếp tục các hóa đơn bán hàng ngày 03/11/2020; ngày 24/11/2020;
Ông M đã ký xác nhận đối chiếu công nợ tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/10/2020, ông M còn nợ Đại lý thức ăn chăn nuôi Kim T (do bà T làm chủ) với số tiền 2.800.520.000₫, (trong đó, ông M đã trả được 198.200.000 đồng (phiếu thu tiền mặt ngày 31/10/2020), còn lại 2.602.320.000 đồng; Ông M tiếp tục ký nhận hóa đơn bán hàng ngày 03/11/2020 với số tiền 148.220.000 đồng và hóa đơn bán hàng đề ngày 24/11/2020 với số tiền 115.600.000 đồng, tổng cộng nợ là 2.866.140.000 đồng và ngày 13/7/2021, ông M trả được 300.000.000 đồng (tại phiếu thu tiền mặt ngày 13/7/2021). Do đó, ông M còn nợ tiền mua thức ăn của bà T là 2.566.140.000 đồng.
Ông Huỳnh Chí N không thừa nhận các hóa đơn trên, cũng như Biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/6/2020, Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/10/2020 là do ông M ký tên, vì ông N không biết việc ông M là cha của ông N có mua bán thức ăn thủy sản hay không và chữ ký tên trong các hóa đơn, bản đối chiếu công nợ có phải là chữ ký tên của ông M không, ông N không biết việc ông M có giao dịch mua bán thức ăn với bà T nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà T.
Đối với Hóa đơn số 1901 ngày 18/8/2020 nợ là 145.040.000đ; Hóa đơn số 1923 ngày 20/8/2020 nợ là 103.600.000đ; Hóa đơn số 1024 ngày 20/8/2020 nợ là 145.040.000đ; Hóa đơn số 2146 ngày 12/9/2020 nợ là 115.440.000đ đều có ký tên người nhận hàng là bà Võ Thị Hồng L, ông N không quen biết bà L là ai nên việc bà L ký tên người nhận hàng tại 04 hóa đơn trên ông N cũng không thừa nhận đây là giao dịch mua bán thức ăn thủy sản của ông M với bà T. Mặt dù, 04 Hóa đơn này là do bà L ký nhận, nhưng đến ngày 31/10/2020, ông M đã xác nhận công nợ với bà T theo Biên bản đối chiếu công nợ với số tiền là 2.800.520.000đ, thì ông M cũng đã thừa nhận 04 hóa đơn mà bà L đã ký tên người nhận hàng.
[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Huỳnh Chí N yêu cầu Tòa án tiến hành giám định chữ ký của ông Huỳnh Văn M trong các tài liệu cần giám định sau: Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/10/2020; Biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/6/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 13/6/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 19/6/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 11/7/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 17/7/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 23/7/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 25/7/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 08/8/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 11/8/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 28/8/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 05/9/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 11/9/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 21/9/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 26/9/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 10/10/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 03/11/2020; Hóa đơn bán hàng ngày 24/11/2020;
Ngoài ra, ông N cũng cam kết yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký của ông M trong các biên nhận nợ với tài liệu có chữ ký ông M trong giao dịch tài chính với ngân hàng V Chi nhánh Đ. Nếu kết quả giám định đúng chữ ký của ông M là do ông M ký ra thì ông N sẽ đồng ý kế thừa nghĩa vụ trả nợ của ông M cho bà T. Qua Kết luận giám định số 105/KL-KTHS ngày 12 tháng 7 năm 2023 của V1 - Bộ C kết luận: “ Chữ ký đứng tên Huỳnh Văn M trên các mẫu cần giám định ký hiệu tử A1 đến A8; Chữ ký dưới mục “Người nhận hàng” trên các mẫu cần giám định từ A9 đến A19 so với chữ ký đứng tên Huỳnh Văn M trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M11 do cùng một người ký ra”.
Do đó, ông N đồng ý với kết quả giám định và đồng ý kế thừa nghĩa vụ trả nợ cho ông M.
[2.3] Xét thấy, Ông Huỳnh Văn M chết năm 2021, không để lại di chúc, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm bà Lê Thị H2, bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí N, ông Huỳnh Chí T2 có quyền hưởng di sản và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản của ông Huỳnh Văn M chết để lại. Tuy nhiên, phần di sản của ông M để lại là thửa đất số 176, tờ bản đồ số 41, diện tích 67,2m² cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông M cùng với tài sản gắn liền với đất là căn nhà cấp IV, tại địa chỉ đường số F, CDC B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp đã được bà Lê Thị H2, bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí T2, ông Huỳnh Chí N thỏa thuận thống nhất giao cho ông N được hưởng toàn bộ di sản này nhưng thủ tục sang tên chưa được thực hiện giao ông N đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà. Do đó, ông N và các đồng thừa kế của ông M có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản do ông M chết để lại để thanh toán nợ cho bà T là phù hợp theo quy định tại Điều 615 BLDS 2015 về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như sau: “ 1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác...”. Xét thấy những người có quyền hưởng di sản của ông M chết để lại phải có nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (cho hàng thừa kế theo pháp luật) không có thỏa thuận về nghĩa vụ trả nợ. Do đó, bà H1, ông T2, ông N và bà H2 cùng có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ của ông Huỳnh Văn M (đã chết) trong phạm vi giá trị di sản mà ông Huỳnh Văn M chết để lại. Trong trường hợp người thừa kế di sản không xác định được kỷ phần của từng người được hưởng thừa kế ông M thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia để xác định nghĩa vụ tài sản do ông M chết để lại bằng một vụ kiện khác.
[3] Đối với các đương sự không yêu cầu thẩm định, định giá tài sản mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng biện pháp khẳn cấp tạm thời, mà thống nhất đưa ra mức giá đối với thửa đất số 612, tờ bản đồ số 13 với mức giá thị trường là 200.000đ/m²; giá theo quy định nhà nước là 50.000đ/m²; Đối với giá trị tài sản đất và căn nhà cấp IV gắn liền với đất với mức giá là 1.800.000.000đ.
[4] Xét ông N tự nguyện xin rút toàn bộ đơn kháng cáo, việc rút toàn bộ đơn kháng cáo của bị đơn ông N, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông H thống nhất việc rút toàn bộ đơn kháng cáo của ông N nên HĐXX quyết định đình chỉ kháng cáo của ông N theo qui định.
[5] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà T yêu cầu buộc hộ gia đình ông Huỳnh Văn M, gồm bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí N, ông Huỳnh Chí T2 và bà Lê Thị H2 cùng liên đới trả tiền nợ gốc 2.566.140.000 và tiền lãi tạm tính đến ngày 22/9/2022 là 481.520.000 đồng, với mức lãi suất 10%/năm, tổng cộng vừa vốn và lãi là 3.047.660.000 đồng là chưa phù hợp vì các lý do sau:
Xét thấy, Đại lý thức ăn chăn nuôi do bà Mai Thị Kim T làm chủ có giao dịch mua bán thức ăn thủy sản với ông Huỳnh Văn M nhiều năm. Trong quá trình mua bán, giao nhận thức ăn thủy sản cho ông M, ông M đều có ký nhận nhưng không có chữ ký tên của bà H1, ông N, ông T2 và bà H2. Nguyên đơn, bị dơn đều xác định khi ông M còn sống có giao dịch mua bán thức ăn với bà T để ông nuôi thủy sản ở huyện T, tỉnh Long An và thường xuyên ở lại nơi nuôi cá, ít khi về nhà tại thành phố H để sống, sinh hoạt chung với các bị đơn nên đại diện nguyên đơn cho rằng việc ông M thường xuyên có mặt tại nhà và cùng đang sinh sống, sinh hoạt chung với những người chung Hộ trong gia đình ông M để buộc trách nhiệm liên đới của những người chung Hộ ông M trong thanh toán nợ cho nguyên đơn là chưa đủ cơ sở để chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H đại diện ủy quyền của nguyên đơn cho rằng việc ông M nuôi cá và nợ tiền thức ăn của bà T là phục vụ kinh tế trong gia đình, nhưng nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho việc ông M nuôi cá, nợ tiền bà T là việc làm kinh tế chung của gia đình. Đồng thời, các khoản nợ nguyên đơn yêu cầu cũng không được bà H1, ông N, ông T2 và bà H2 thừa nhận, trong khi đó phía nguyên đơn cũng không chứng minh được việc ông M nuôi trồng thủy sản nhằm mục đích phục vụ cho thu nhập kinh tế hoặc sinh hoạt thiết yếu chung hộ gia đình ông M. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định chưa đủ chứng cứ vững chắc để buộc những người trong hộ ông Huỳnh Văn M gồm bà H1, ông N, ông T2 và bà H2 liên đới trả tiền cho nguyên đơn là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện xin rút một phần kháng cáo đối với yêu cầu về tiền lãi, thống nhất tiền lãi theo bản án sơ thẩm đã tính là 481.520.000 đồng. Việc xin rút một phần kháng cáo của đại diện ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn ông N rút kháng cáo là tự nguyện và phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử đình chỉ kháng cáo của bị đơn ông N, đình chỉ một phần kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Xét đề nghị của luật sư đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà T là chưa đủ căn cứ nên không chấp nhận.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề nghị đình chỉ kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Chí N, đình chỉ một phần kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị Kim T là phù hợp nên chấp nhận.
[8] Về án phí phúc thẩm:
Bà Mai Thị Kim T, ông Huỳnh Chí N phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 148 và Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 357, 430, 440, 468, 615 và Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Chí N.
- Đình chỉ một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Mai Thị Kim T.
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị Kim T.
-
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 52/2022/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc buộc hộ ông Huỳnh Văn M có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn số tiền mua thức ăn (cho cá) còn thiếu tổng cộng 3.047.660.000 đồng (Ba tỷ không trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí T2, ông Huỳnh Chí N và bà Lê Thị H2 có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi giá trị di sản do ông Huỳnh Văn M chết để lại để trả cho bà Mai Thị Kim T (chủ hộ kinh doanh Mai Thị Kim T) số tiền gốc 2.566.140.000 đồng và tiền lãi là 481.520.000 đồng, tổng cộng 3.047.660.000 đồng (Ba tỷ không trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bà Mai Thị Kim T có đơn yêu cầu thi hành án, mà bà Lê Thị H2, bà Dương Thị Mỹ H1, ông Huỳnh Chí T2, ông Huỳnh Chí N chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 01/2022/QĐ-BPKCTT ngày 17 tháng 01 năm 2022 và Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 02/2022/QĐ-BPKCTT ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp để đảm bảo thi hành án.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Mai Thị Kim T (chủ hộ kinh doanh Mai Thị Kim T) không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà Mai Thị Kim T 45.859.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu tám trăm năm mươi chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp (do Nguyễn Cao H nộp thay) theo biên lai số: 0006461 ngày 12 tháng 01 năm 2022 và biên lai số: 0006541 ngày 05 tháng 5 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp;
Bà Dương Thị Mỹ H1, anh Huỳnh Chí T2, anh Huỳnh Chí N phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 69.714.900 đồng (Sáu mươi chín triệu bảy trăm mười bốn nghìn chín trăm đồng);
Cụ Lê Thị H2 là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về án phí phúc thẩm:
Bà Mai Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Mai Thị Kim T (chủ hộ kinh doanh Mai Thị Kim T) đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0006708 ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.
Ông Huỳnh Chí N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông Huỳnh Chí N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0006676 ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trung Thành |
Bản án số 405/2023/DS-PT ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Số bản án: 405/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Tuyết yêu cầu buộc liên đới các thành viên trong hộ gia đình chịu trách nhiệm trả nợ tiền thức ăn nuôi cá
