|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 405/2024/HS-ST Ngày: 22-8-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Hoàng Xuân Hồng
- Bà Phan Thị Bé
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Khải – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 397/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 469/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Trần Thị Ú, Sinh ngày 01/01/1984 tại tỉnh Bạc Liêu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Số A Đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông Trần Văn Q (chết) và bà Bùi Thị H, sinh năm: 1948; chồng bị cáo tên Huỳnh Minh T, sinh năm: 1980; có 03 người con (lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm: 2012); Tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2022 đến ngày 18/01/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 05/10/1960 tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: 63 Đường A, Tổ B, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông Nguyễn Thành S1 (đã chết) và bà Võ Thị V (đã chết); vợ tên Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn); có 02 người con (lớn sinh năm: 1988, nhỏ sinh năm: 1994); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2022 đến ngày 09/01/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Thị N, sinh năm: 1966 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; Chỗ ở hiện nay: D Đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Kiều Thị S2 (đã chết; chồng bị cáo tên Huỳnh Tấn L (đã chết); có 03 người con (lớn sinh năm: 1987, nhỏ sinh năm: 1999); Tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2022 đến ngày 16/02/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Huỳnh Ngọc K, sinh ngày 01/01/1977 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Số D H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Con ông Huỳnh Văn T1, năm sinh: không rõ và bà Phan Thị L1, năm sinh: không rõ; chồng bị cáo tên Đỗ Tấn Vũ L2; Tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2022 đến ngày 16/02/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5. Huỳnh Thị N1, sinh năm: 1964 tại tỉnh Bạc Liêu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở hiện nay: Số A, Tổ C, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông Huỳnh Hữu T2 (đã chết) và bà Lâm Thị N2 (đã chết); chồng bị cáo tên Nguyễn Văn N3; Bị cáo có 02 người con (lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1993); Tiền án, tiền sự: không bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2022 đến ngày 16/02/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
6. Hoàng Ngọc Mỹ T3; sinh ngày 21/11/1995 tại tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ E, khu phố B, T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: Số B C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Hoàng Ngọc T4, sinh năm: 1975 và bà Danh Thị Mỹ T5, sinh năm: 1973; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con lớn; Tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2022 đến ngày 18/01/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
7. Hoàng Ngọc T4; sinh ngày 30/4/1975 tại tỉnh An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con Hoàng M (đã chết) và Nguyễn Thị N4 (đã chết); gia đình có 06 anh chị em bị cáo là con thứ 5; Vợ bị cáo tên Danh Thị Mỹ T5; bị cáo có 02 người con (lớn sinh năm: 1995, nhỏ sinh năm: 2003) Bị cáo có bị cáo có 02 người (lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2003); Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 28/3/1997, Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; (Bị cáo được đình chỉ thi hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm); Ngày 16/01/2024, Công an phường T, thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0010982/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc trái phép (bị cáo đã nộp phạt xong số tiền 2.000.000 đồng); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2022 đến ngày 18/01/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, ngày 25/6/2024 bị bắt tạm giam do vi phạm nghĩa vụ cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài, bị can Trần Thị Ú sử dụng phòng trọ của mình đang ở tại địa chỉ ½ Đường A, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức cho các con bạc đánh bài cào 3 lá ăn thua bằng tiền để thu tiền xâu. Trần Thị Ú đã mua 10 bộ bài tây 52 lá rồi liên hệ các con bạc đến chơi đánh bạc.
Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 06/12/2022, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Hoàng Ngọc T4 (là cha ruột của Hoàng Ngọc Mỹ T3), Huỳnh Ngọc T6, Nguyễn Hoàng S, Huỳnh Ngọc K, Nguyễn Thị N và Huỳnh Thị N1 đến phòng trọ của Trần Thị Ú để đánh bài cào 3 lá ăn thua bằng tiền. Hai cha con Hoàng Ngọc T4 và Hoàng Ngọc Mỹ T3 chung một tụ làm cái. Nguyễn Thị N và Huỳnh Thị N1 chung một tụ còn các con bạc khác mỗi người một tụ. Các con bạc ngồi vòng tròn dưới nền phòng trọ của Trần Thị Ú theo thứ tự từ trái qua phải. Bên tay trái của T4 lần lượt là Huỳnh Ngọc T6, Huỳnh Ngọc K, Nguyễn Hoàng S, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1 và cuối cùng là Hoàng Ngọc Mỹ T3.
Khi chơi bài, Hoàng Ngọc T4 và Hoàng Ngọc Mỹ T3 làm “nhà cái” trước, sử dụng bộ bài tây 52 lá chia thành 05 tụ, mỗi tụ 03 lá bài. “Nhà con” sẽ đặt cược số tiền tùy thích dao động từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng một ván. Khi “nhà cái” chia bài xong thì “nhà con” xem bài và so với “nhà cái” để xác định thắng thua, nếu “nhà cái” lớn điểm (nút) hơn “nhà con” thì “nhà cái” thắng và ngược lại thấp điểm hơn thì thua. Cách tính điểm trong mỗi ván là so sánh tổng điểm của ba lá bài sau khi trừ đi số tròn chục (nếu có). Các con bài hình J, Q, K được tính là 10 điểm. Trường hợp đặc biệt ai sở hữu được ba lá bài hình bất kỳ (J, Q, K) thì thắng không cần tính điểm. Trong quá trình chơi, các con bạc quy định, mỗi ván bài nếu “nhà con” bị bù (tổng điểm tròn chục) thì nhà cái sẽ bỏ xâu cho Ú 10.000 đồng.
Khoảng 23 giờ 30 phút, cùng ngày, khi các con bạc đang chơi đánh bạc thì Công an thành phố T kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. (Bút lục 142-144).
Khi chơi đánh bạc, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Hoàng Ngọc T4 mỗi người mang theo 5.000.000 đồng để chơi đánh bạc. Tổng số tiền Hoàng Ngọc Mỹ T3, Hoàng Ngọc T4 dùng để đánh bạc là 10.000.000 đồng. Khi bị bắt quả tang Hoàng Ngọc Mỹ T3, Hoàng Ngọc T4 thua 500.000 đồng. Huỳnh Ngọc T6 mang theo 600.000 đồng để chơi đánh bạc thua 100.000 đồng; Nguyễn Hoàng S mang theo 4.500.000 đồng để chơi đánh bạc, thắng 200.000 đồng; Huỳnh Ngọc K mang theo 1.600.000 đồng để chơi đánh bạc, thua 100.000 đồng; Nguyễn Thị N mang theo 700.000 đồng để chơi đánh bạc thắng được 400.000 đồng; Huỳnh Thị N1 mang theo 200.000 đồng để chơi đánh bạc, thua 200.000 đồng. Thu giữ 300.000 đồng tiền xâu trên người của Trần Thị Út. (Bút lục 247-300).
Quá trình điều tra bị can Huỳnh Ngọc T6 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng đã bỏ trốn khỏi địa phương, vi phạm nghĩa vụ cấm đi khỏi nơi cư trú nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành truy nã. Đến nay, thời hạn điều tra vụ án đã hết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can và tạm đình chỉ điều tra bị can Huỳnh Ngọc T6.
Vật chứng và đồ vật thu giữ gồm:
- - 10 (mười) bộ bài tây 52 lá;
- - 17.600.000 đồng tiền ngân hàng N5 (Hoàng Ngọc T4 và Hoàng Ngọc Mỹ T3 là 9.500.000 đồng; Huỳnh Ngọc T6 là 500.000 đồng; Nguyễn Hoàng S là 4.700.000 đồng; Huỳnh Ngọc K là 1.500.000 đồng; Nguyễn Thị N là 1.100.000 đồng; Trần Thị Ú là 300.000 đồng).
Cáo trạng số 387/CTr-VKSTPTĐ ngày 23/7/2024, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố các bị cáo Trần Thị Ú, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Ngọc K, Hoàng Ngọc T4, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Nguyễn Hoàng S về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đối với Trần Thị Ú không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng là người mua 10 bộ bài tây 52 lá về để ở phòng trọ rồi liên hệ các con bạc đến chơi đánh bạc, cho các đối tượng chơi đánh bạc tại phòng trọ của mình, có thu tiền xâu nhưng chưa đủ số lượng người tham gia đánh bạc nên không truy tố Trần Thị Ú về tội “Tổ chức đánh bạc” mà chỉ truy tố Ú về tội “Đánh bạc” với vai trò đồng phạm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố các bị cáo Trần Thị Ú, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Ngọc K, Hoàng Ngọc T4, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Nguyễn Hoàng S phạm tội “Đánh bạc”; các bị cáo Trần Thị Ú, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Ngọc K, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Nguyễn Hoàng S phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đối với bị cáo Ú được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (gia đình bị cáo Trần Thị Ú có công với cách mạng); các bị cáo Trần Thị Ú, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Ngọc K, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Nguyễn Hoàng S đều có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo Trần Thị Ú, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Ngọc K, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Nguyễn Hoàng S với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với bị cáo Hoàng Văn T7, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo T7 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước tiền dùng đánh bạc là 17.600.000 đồng, tịch thu tiêu hủy 10 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.
Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình; các bị cáo Trần Thị Ú, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Ngọc K, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Nguyễn Hoàng S xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 20 giờ 30 phút đến 23 giờ 30 phút, ngày 06/12/2022, Trần Thị Ú có hành vi chuẩn bị bài, cho các con bạc sử dụng phòng trọ của Ú tại địa chỉ: P, nhà số A đường A, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền để Ú thu tiền xâu. Các con bạc trực tiếp tham gia đánh bạc trong một sòng bạc gồm: Hoàng Ngọc M, Hoàng Ngọc T4, Huỳnh Ngọc T6, Nguyễn Hoàng S, Huỳnh Ngọc K, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1. Tổng số tiền xác định dùng vào việc đánh bạc là 17.600.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Trần Thị Ú, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Ngọc K, Hoàng Ngọc T4, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Nguyễn Hoàng S đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với các bị cáo Trần Thị Ú, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Ngọc K, Hoàng Ngọc T4, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Nguyễn Hoàng S là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất vụ án:
Trong vụ án này, bị cáo Trần Thị Ú không phải là người trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng đã có hành vi cho sử dụng địa điểm, cung cấp 10 bộ bài tây 52 lá và thu tiền xâu nhưng chưa đủ số lượng số người tham gia đánh bạc nên không truy tố, xét xử Trần Thị Ú về tội “Tổ chức đánh bạc” mà chỉ truy tố, xét xử Ú về tội “Đánh bạc” với vai trò đồng phạm với các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Ngọc K, Hoàng Ngọc T4, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Nguyễn Hoàng S. Hành vi của các bị cáo thực hiện đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc trái phép sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng các bị cáo vẫn phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật rất kém. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, cũng xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối các bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Đối với bị cáo Hoàng Ngọc T4, là người có nhân thân xấu, sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, trong thời gian Cơ quan Cảnh sát điều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú thì bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép nhưng chưa đủ định lượng để xử lý hình sự nên Công an phường T, thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0010982QĐ-XPHC ngày 16/01/2024 về hành vi đánh bạc trái phép. Điều đó, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên cũng xét quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Đối với các bị cáo Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Ngọc K, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Nguyễn Hoàng S đều có nhân thân tốt, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo Trần Thị Ú, ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Bà ngoại của bị cáo là Bà mẹ Việt Nam anh hùng và được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; ông ngoại và cậu ruột của bị cáo là liệt sĩ. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm cho các bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
Xét, các bị cáo Trần Thị Ú, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Ngọc K, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Nguyễn Hoàng S, ngoài những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên thì các bị cáo này đều có trình độ học vấn thấp, xét thấy trong thời gian từ khi tại ngoại cho đến nay, các bị cáo chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước tại địa phương, không có biểu hiện vi phạm pháp luật mới, có khả năng tự cải tạo, có nơi cư trú rõ ràng. Việc không cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, không gây nguy hiểm cho xã hội, cần tạo điều kiện cho các bị cáo tự cải tạo, sửa chữa lỗi lầm của mình dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương.
Với nhận định như trên và theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì các bị cáo Trần Thị Ú, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Ngọc K, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Nguyễn Hoàng S đủ điều kiện được hưởng án treo và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Do đó, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng án treo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - 10 Bộ bài tây 52 lá, là vật chứng vụ án và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền thu giữ của các bị cáo tại chiếu bạc là 17.600.000 đồng;
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 85/QĐ-VKSTPTĐ ngày 11/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Ủy nhiệm chi số 05 ngày 26/4/2023 Công an thành phố T chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức).
[6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định; riêng bị cáo Nguyễn Hoàng S là người cao tuổi nên căn cứ Luật Người cao tuổi; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo S.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.
VÌ CÁC LẼ TRÊN;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Thị Ú, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Ngọc K, Hoàng Ngọc T4, Hoàng Ngọc Mỹ T3, Nguyễn Hoàng S phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
2.1 Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- - Xử phạt bị cáo Trần Thị Ú 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thủ thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
2.2 Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thủ thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
- - Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị N1 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thủ thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
- - Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc K 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thủ thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thủ thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
- - Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc Mỹ T3 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thủ thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Trần Thị Ú, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo Trần Thị Ú, Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị N1 có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng S cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng S có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo Hoàng Ngọc Mỹ T3 cho Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Hoàng Ngọc Mỹ T3 có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt trước của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
2. 3 Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T4 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2024, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó (từ ngày 06/12/2022 đến ngày 18/01/2023).
3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021.
- - Tịch thu tiêu hủy 10 Bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng).
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 17.600.000 đồng.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 290/QĐ-VKSTPTĐ ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức; Phiếu nhập kho ngày 06/5/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức và Giấy nộp tiền mặt ngày 06/5/2024 Công an thành phố T chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức).
4. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Bị cáo Trần Thị Ú phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- - Bị cáo Nguyễn Thị N phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- - Bị cáo Huỳnh Ngọc K phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- - Bị cáo Huỳnh Thị N1 phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- - Bị cáo Hoàng Ngọc T4 phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- - Bị cáo Hoàng Ngọc Mỹ T3 phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- - Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Hoàng S.
5. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo Bản án.
Đã giải thích chế định án treo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nguyệt |
Bản án số 405/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 405/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xư phat
