Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 405/2023/HS-ST

Ngày 19-12-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quốc Hoàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Phi Hồng.

Ông Hoài Đức Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần – Phòng xét xử trực tuyến Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 306/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 463/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Hoàng Đ, sinh năm 2001, tại tỉnh Hậu Giang;
  2. Nơi đăng ký thường trú: Ấp G, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang; Nơi tạm trú: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn G, sinh năm 1973 và bà Lê Kim L, sinh năm 1974; gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình và chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Ngày 01/6/2020 bị Đồn Công an khu công nghiệp N ra Quyết định số 70/QĐ-XPCPHS xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”; Ngày 08/6/2020 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/8/2023 sau đó chuyển tạm giam cho tới nay. Hiện bị cáo tại Nhà tạm giữ Công an huyện N. (Bị cáo có mặt).

  3. Huỳnh Văn V, sinh năm 2001, tại tỉnh An Giang;
  4. Nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang; Nơi tạm trú: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hoà Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1968 và bà Huỳnh Thị T1, sinh năm 1971; gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình và chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/8/2023 sau đó chuyển tạm giam cho tới nay. Hiện bị cáo tại Nhà tạm giữ Công an huyện N. (Bị cáo có mặt).

    - Người làm chứng: Anh Nguyễn Vĩ K, sinh năm 2005 (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Hoàng Đ là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 23/8/2023, Đ đến khu vực ngã 5 đường H thuộc xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai mua 01 gói ma túy của Đ1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 500.000 đồng rồi về chia nhỏ để sử dụng và bán lại cho con nghiện. Đến khoảng 00 giờ 40 phút ngày 24/8/2023, Huỳnh Văn V điện thoại cho Đ hỏi mua ma túy với giá 500.000 đồng để sử dụng và hẹn giao ma túy tại phòng trọ của V thuộc khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Đ đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 68T1-60767 đến phòng trọ của V và giao ma túy cho V. Sau khi nhận ma túy từ Đ, V cầm ma túy trên tay đồng thời nhờ Đ chở đến khu vực quán K3 thuộc khu phố P, thị trấn H, huyện N để Vũ mượn tiền trả cho Đ tiền mua ma túy. Trên đường đi thì bị lực lượng Công an thị trấn H, huyện N, huyện N kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:

Thu giữ của Huỳnh Văn V: 01 gói nilon, hàn kín 02 đầu, kích thước 01cm x 04 cm, bên trong có các hạt tinh thể màu trắng; 01 điện thoại ViVo màu đen.

Thu giữ của Phạm Hoàng Đ: 01 điện thoại ViVo, màu xanh và 01 xe mô tô hiệu Winer X màu đỏ đen, biển số 68T1 – 60767.

Tại Kết luận giám định số: 1896/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh Đ xác định 01 phong bì (ký hiệu M) được niêm phong vẫn còn nguyên vẹn, trên phòng bì có các chữ ký ghi họ tên Phạm Hoàng Đ, Nguyễn Vỹ K1, Huỳnh Văn V và hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Sau khi mở niêm phong, bên trong phong bì có 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng. Kết quả giám định xác định: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1821 gam, loại: Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,1544 gam.

Tại cáo trạng số 293/CT-VKSLT ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Phạm Hoàng Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Huỳnh Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Đề nghị áp dụng điểm khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Đ mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn V mức án từ 18 tháng đến 20 tháng tù.

Về xử lý vật chứng Viện kiểm sát đề nghị:

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma tuý còn lại sau giám định (được niêm phong số 1896/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Đ).

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Vivo màu đen của Huỳnh Văn V, 01 điện thoại Vivo màu xanh của Phạm Hoàng Đ.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 68T1-60767 là phương tiện phạm tội thuộc sở hữu của anh Hoàng Thiện P (bạn của Phạm Hoàng Đ), do anh P không biết Đ mượn xe dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N trả lại cho anh P là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận toàn bộ hình vi phạm tội của mình giống như bản cáo trạng đã mô tả, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, có thái độ ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, những người làm chứng anh Nguyễn Vĩ K2 vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra, tuy tố người làm chứng đã có lời khai đầy đủ và việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về căn cứ định tội danh và điều luật áp dụng:

Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu. chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 24/8/2023, tại dãy phòng trọ của Huỳnh Văn V thuộc khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Phạm Hoàng Đ đã bán cho V 01 gói ma túy có khối lượng 0,1821 gam loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng để V sử dụng. Khi Đ đang chở V đi vay tiền để trả tiền mua ma túy của Đ thì bị bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số: 1896/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh Đ xác định 01 phong bì (ký hiệu M) được niêm phong vẫn còn nguyên vẹn, trên phòng bì có các chữ ký ghi họ tên Phạm Hoàng Đ, Nguyễn Vỹ K1, Huỳnh Văn V và hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Sau khi mở niêm phong, bên trong phong bì có 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng. Kết quả giám định xác định: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1821 gam, loại: Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,1544 gam.

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phạm Hoàng Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Huỳnh Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố cac bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, Điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu lợi ích cá nhân các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng, đồng thời nó cũng là nguyên nhân phát sinh những loại tội phạm khác.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Huỳnh Văn V có nhân thân tốt nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma tuý còn lại sau giám định (được niêm phong số 1896/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Đ).

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Vivo màu đen của Huỳnh Văn V, 01 điện thoại Vivo màu xanh của Phạm Hoàng Đ.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 68T1-60767 là phương tiện phạm tội thuộc sở hữu của anh Hoàng Thiện P (bạn của Phạm Hoàng Đ), do anh P không biết Đ mượn xe dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N trả lại cho anh P là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên Đ1 (không rõ nhân thân) là người bán ma tuý cho Phạm Hoàng Đ do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

    Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Đ 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 8 năm 2023.

  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)

    Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn V 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 8 năm 2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma tuý còn lại sau giám định (được niêm phong số 1896/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Đ).

    Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Vivo màu đen của Huỳnh Văn V, 01 điện thoại Vivo màu xanh của Phạm Hoàng Đ.

    (Số vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch tạm giữ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/11/2023).

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí:

    Buộc các bị cáo Phạm Hoàng ĐHuỳnh Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Quốc Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 405/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai về hình sự sơ thẩm (mua bán và tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 405/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Hoàng Đ và đồng phạm phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger