Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 405/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02 - 7 - 2024

V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Ngân
  2. Bà Trần Ngọc Anh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Nam- Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 60/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 305A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Cẩm D, sinh năm 2000.
  2. Bị đơn: Anh Cao Vũ E, sinh năm 1998.

Cùng nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

(chị D và anh Vũ E vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 22/01/2024 bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm D trình bày: chị và anh Cao Vũ E sau khi tìm hiểu và tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2018, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 18, ngày 19/4/2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân do anh Vũ E thường xuyên đánh đập chị, bất đồng quan điểm và đã ly thân từ năm 2020 đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với anh Cao Vũ E.

Về con chung: có 01 con chung tên Cao Minh K, sinh ngày 12/3/2018 hiện đang sống với chị D. Chị D yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, yêu cầu anh Vũ E cấp dưỡng cho con 1.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không có ý kiến nào khác.

Bị đơn anh Cao Vũ E đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có lời trình bày.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Hôn nhân của chị D và anh Vũ E được xác lập trên cơ sở tự tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung tên Cao Minh K, sinh ngày 12/3/2018, hiện đang sống với chị D; chị D yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, yêu cầu anh Vũ E cấp dưỡng cho con 1.000.000đ/tháng là phù hợp nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, yêu cầu nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Cao Vũ E là bị đơn có nơi cư trú tại ấp P, xã P huyện P, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Chị D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; anh Vũ E đã được Toà án triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử nhưng đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh, chị theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Chị D yêu cầu ly hôn với anh Vũ E, yêu cầu nuôi con chung. Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh chị được xác lập năm 2018 trên cơ sở tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, đã ly thân từ năm 2020 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được; điều này còn được chứng minh bởi, anh Vũ E biết được Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của chị D nhưng anh không có ý kiến phản đối. Do đó, chị D yêu cầu ly hôn là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Anh chị có 01 con chung tên Cao Minh K, sinh ngày 12/3/2018, hiện đang sống với chị D. Từ khi ly thân đến nay cháu K do chị D trực tiếp chăm sóc, giáo dục, đảm bảo phát triển bình thường về thể chất, tinh thần; căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cần giao con chung cho chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con đến thành niên hoặc tự lập được. Chị D phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh Vũ E đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng cho con chung: Chị D yêu cầu anh Vũ E cấp dưỡng cho con là 1.000.000/tháng. Xét thấy, yêu cầu này của chị D là phù hợp với hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết 01/2024/HĐTP Toà án nhân dân tối cao nên có căn cứ xem xét chấp nhận.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Ghi nhận lời trình bày của đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị D và Anh Vũ E phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí: Chị D phải chịu án phí theo qui định pháp luật. Anh Vũ E không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm D được ly hôn với anh Cao Vũ E.
  2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Cẩm D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Cao Minh K, sinh ngày 12/3/2018 đến thành niên hoặc tự lập được;

Chị Lê Thị Cẩm D phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh Cao Vũ E đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

Anh Cao Vũ E có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con mỗi tháng là 1.000.000đ đến khi con chung thành niên hoặc tự lập được.

Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện kể từ ngày xét xử sơ thẩm (tháng 7/2024) cho đến khi con chung tên Cao Minh K thành niên hoặc tự lập được.

  1. Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Chị Lê Thị Cẩm D phải chịu án phí hôn nhân, gia đình là 300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006593 ngày 29/01/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (đã nộp đủ).

- Anh Cao Vũ E phải chịu án phí cấp dưỡng cho con là 300.000 đồng.

Đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - UBND xã P, huyện P, tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Bích Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 405/2024/HNGĐ-ST ngày 02/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn và nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 405/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị Cẩm D được ly hôn với anh Cao Vũ E
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger