TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 405/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05/12/2024 Về ly hôn, tranh chấp về nuôi con. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định, bà Dương Thị Kim Hồng.
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 454/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 493/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 327/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/11/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị M, sinh năm 1985. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
Người được chị M ủy quyền giao, nhận văn bản: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1999. Địa chỉ: Thôn H, xã D, huyện G, Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Đinh Tiến H, sinh năm 1984. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lâm Thị Q, sinh năm 1952. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương.
Các đương sự vắng mặt (nguyên đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các văn bản gửi cho Tòa án, nguyên đơn là chị Vũ Thị M trình bày: Chị và anh Đinh Tiến H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND H, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 11/5/2007. Năm 2016, vợ chồng cùng đi lao động tại Đài Loan và chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do khác biệt về tính cách, quan điểm sống và không tin tưởng nhau. Mặc dù đã được gia đình hòa giải, động viên nhưng vợ chồng vẫn không chung sống hòa hợp được. Xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn anh H.
Chị với anh H có hai con chung là Đinh Tiến K- sinh ngày 22/4/2008 và Đinh Minh T- sinh ngày 18/6/2012. Chị đề nghị giao hai con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Chị và anh H sẽ tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con. Chị đồng ý để mẹ đẻ của anh H là bà Lâm Thị Q chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K, cháu T trong thời gian anh H không có mặt ở Việt Nam.
Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.
Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, anh Đ đã thông báo cho chị M biết. Chị M giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lâm Thị Q trình bày: Quá trình sinh sống tại Đài Loan, anh H và chị M phát sinh mâu thuẫn do không tin tưởng nhau, bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế. Bà nhiều lần khuyên bảo nhưng vợ chồng không chung sống hòa thuận được và đã sống ly thân một thời gian. Bà đã thông báo cho anh H biết về việc Tòa án giải quyết vụ án chị M khởi kiện xin ly hôn và anh H có trao đổi với bà là mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cả hai bên đều xác định không thể đoàn tụ cùng nhau nên anh H nhất trí ly hôn chị M. Anh H đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Đinh Tiến K- sinh ngày 22/4/2008, Đinh Minh T- sinh ngày 18/6/2012 cho tới khi thành niên và tự nguyện không yêu cầu chị M phải đóng góp tiền nuôi con chung cùng anh. Vì vậy bà đề nghị Tòa án chấp nhận cho vợ chồng được ly hôn, chấp nhận cho anh H được nuôi cả hai con. Bà đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K, cháu T trong thời gian anh H không có mặt ở Việt Nam và đề nghị Tòa án tiến hành các thủ tục giải quyết vụ án vắng mặt bà và anh H.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã tuân theo và chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Vũ Thị M được ly hôn anh Đinh Tiến H. Giao hai con chung là Đinh Tiến K- sinh ngày 22/4/2008 và Đinh Minh T- sinh ngày 18/6/2012 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Tạm giao cháu K, cháu T cho bà Lâm Thị Q chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh H không có mặt ở Việt Nam. Buộc chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
2
- Về tố tụng:
- Chị Vũ Thị M và anh Đinh Tiến H đều đang sinh sống tại Đài Loan. Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh của chị M, anh H ở xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Các tài liệu chị M gửi cho Tòa án đều được chứng thực hợp pháp nên có cơ sở xác định nội dung các tài liệu thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của chị M.
- Về hôn nhân: Chị Vũ Thị M và anh Đinh Tiến H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 11/5/2007. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Từ trình bày của chị M và bà Lâm Thị Q có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa chị M với anh H không hòa hợp do bất đồng quan điểm sống và không tin tưởng nhau. Do không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân một thời gian. Mặc dù đã được gia đình hòa giải, động viên nhưng cả hai bên đều xác định không thể đoàn tụ cùng nhau. Nhận thấy hôn nhân giữa chị M và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị M xin ly hôn anh H, anh H nhất trí ly hôn chị M nhưng vì các đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa nên cần xử cho chị M được ly hôn anh H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị M và anh H có hai con chung là Đinh Tiến K- sinh ngày 22/4/2008 và Đinh Minh T- sinh ngày 18/6/2012. Các đương sự thống nhất giao hai con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp với nguyện vọng của cháu K, cháu T muốn được ở cùng anh H nên được chấp nhận. Anh H không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh và bà Lâm Thị Q đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K, cháu T trong thời gian anh H không có mặt ở Việt Nam là tự nguyện nên cần chấp nhận.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
3
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Vũ Thị M và anh Đinh Tiến H.
- Về nuôi con chung: Giao hai con chung là Đinh Tiến K- sinh ngày 22/4/2008 và Đinh Minh T- sinh ngày 18/6/2012 cho anh Đinh Tiến H trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Tạm giao cháu Đinh Tiến K và cháu Đinh Minh T cho bà Lâm Thị Q chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh Đinh Tiến H không có mặt ở Việt Nam.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Vũ Thị M phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (do anh Nguyễn Văn Đ nộp thay) theo biên lai số 0005123 ngày 01/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị M đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Phương Thúy |
4 | |
Bản án số 405/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 405/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị M xin ly hôn anh H
