Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 405/2024/HC-PT

Ngày: 16 - 5 - 2024

V/v Khiếu kiện yêu cầu huỷ giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên

Ông Hoàng Thanh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1083/2023/TLPT-HC ngày 20 tháng 12 năm 2023 về “Khiếu kiện yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 94/2022/HC-ST ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 661/2024/QĐPT – HC ngày 22/4/2024, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Bùi Xuân Á, sinh năm 1962. (vắng mặt)

Địa chỉ: 2 đường Đ, phường A, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Huy H, sinh năm 1982. (có mặt sáng ngày 16/5/2025 và có đơn xin vắng mặt vào chiều ngày 16/5/2024)

Địa chỉ: Đường B, khu trung tâm hành chính huyện N, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Người bị kiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T – Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ (vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lê Thanh T1 – Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T2 – Phó Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh N. (có đơn vắng xin mặt).

  2. Bà Khổng Thị Kim T3, sinh năm 1970. (vắng mặt)

    Địa chỉ: A, đường D, khu phố A, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền:

    • Ông Hồ Văn T4, sinh năm 1968 (vắng mặt)

      Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

    • Ông Dương Đức V, sinh năm 1992 (có mặt)

      Địa chỉ: 2, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  3. Ông Nguyễn Khắc T5, sinh năm 1974. (vắng mặt)
  4. Bà Võ Thị Thu H1, sinh năm 1976. (vắng mặt)

    Địa chỉ: A đường H, tổ C, khu phố E, phường T, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Ông Lê Văn D, sinh năm 1953 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Số B đường N, khu phố E, phường B, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

  6. Ông Dương Thanh L, sinh năm 1960. (vắng mặt)

    Địa chỉ: Ấp E, xã S, huyện T, Tỉnh Đồng Nai.

Người kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện – ông Lê Huy H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung tại bản án sơ thẩm và đơn khởi kiện của người khởi kiện ông Bùi Xuân Á như sau:

Ngày 25/01/2008 Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1516 quyển số 01 TP/CC-SCT/HNGĐ. Theo đó ông Dương Thanh L đã chuyển nhượng cho ông Á diện tích 958m² thửa số 126 tờ bản đồ số 32 xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Ông Á đã được UBND huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 489263 cấp ngày 08/4/2008 theo đó công nhận cho ông Á được quyền sử dụng diện tích 958m² (trong đó có 300m² đất ở nông thôn và 658m² đất trồng cây lâu năm), thửa đất 126 tờ bản đồ số 32 xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Ông L đã giao đất cho ông Á quản lý từ năm 2008 cho đến nay.

Ngày 23/11/2020 Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 267834 thửa đất số 369 tờ bản đồ số 57 xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai cho bà Khổng Thị Kim T3, trong đó có một phần đất của ông Á, đã cấp giấy CNQSD đất cho ông Á trước đó.

Ông Á cho rằng việc cấp giấy chứng nhận cho các chủ đất kể trên chồng lên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Á là cấp trái pháp luật, trong khi đó giấy của ông Á vẫn còn giá trị pháp luật.

Nay ông Á yêu cầu toà án giải quyết những vấn đề sau:

Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 267834 cấp ngày 23/11/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Khổng Thị Kim T3 đối với thửa đất số 369 tờ bản đồ số 57 xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

* Người bị kiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ trình bày:

  1. Quá trình sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là giấy chứng nhận) số CY 267834 ngày 23/11/2020 đối với thửa đất số 369, tờ bản đồ địa chính số 57, xã P, huyện N:

    Nguồn gốc sử dụng đất theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Thửa đất số 127, tờ bản đồ địa chính số 32, diện tích 3158m², xã P, huyện N do bà Khổng Thị Kim T3 sử dụng, được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận số AN 315699 ngày 02/3/2009. Theo bản đồ địa chính xã P đo đạc năm 2008, thửa đất số 127 tờ bản đồ địa chính số 32 tương ứng với thửa đất số 369 tờ bản đồ địa chính số 57, diện tích 3557m². Diện tích tăng 399m² đã được UBND xã P kiểm tra, xác nhận nguyên nhân tăng do chênh lệch giữa các lần đo đạc bản đồ địa chính, đất hiện sử dụng ổn định, không tranh chấp với các hộ lân cận, không mua bán thêm, không khai phá thêm.

    Năm 2017, bà Khổng Thị Kim T3 đề nghị được cấp đổi giấy chứng nhận đối với thửa đất số 369 tờ bản đồ địa chính số 57, diện tích 3557m², xã P. Hồ sơ của bà T3 được Văn phòng Đ - Chi nhánh N tiếp nhận, thẩm tra, trình Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ TUQ của Sở T cấp Giấy chứng nhận số CI 837325 ngày 19/7/2017 cho bà Khổng Thị Kim T3 đối với thửa đất số 369 tờ bản đồ số 57, diện tích 3557m², xã P.

    Ngày 10/7/2020, bà Khổng Thị Kim T3 có đơn trình báo mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 837325 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ TUQ của Sở T cấp ngày 19/7/2017 và được Công an xã P, UBND xã P xác nhận ngày 12/8/2020. UBND xã P đã thực hiện việc niêm yết mất giấy chứng nhận nêu trên từ ngày 11/8/2020 đến ngày 12/9/2020 và ghi nhận trong thời gian niêm yết không nhận được khiếu nại, tranh chấp nào liên quan đến thửa đất trên.

    Ngày 11/8/2020, bà Khổng Thị Kim T3 có đơn đề nghị cấp lại giấy chứng nhận đối với thửa đất số 369, tờ bản đồ địa chính số 57, diện tích 3557m², xã P và được UBND xã P xác nhận ngày 12/9/2020. Hồ sơ của Bà T3 được Văn phòng Đ - Chi nhánh N tiếp nhận, thẩm tra, trình Văn phòng Đăng ký đất đai TUQ Sở T ký Quyết định số 1713/QĐ-STNMT ngày 23/11/2020 về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 837325 cấp ngày 19/7/2017. Đồng thời, cấp lại Giấy chứng nhận số CY 267834 ngày 23/11/2020 cho bà Khổng Thị Kim T3 đối với thửa đất số 369, tờ bản đồ địa chính số 57, diện tích 3557m², xã P.

  2. Ý kiến nhận xét về việc cấp Giấy chứng nhận:

    Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của bà Khổng Thị Kim T3 nộp, căn cứ Điều 37, Điều 77 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Văn phòng Đ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 837325 ngày 19/7/2017 và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 267834 ngày 23/11/2020 cho bà Khổng Thị Kim T3 là đúng quy định.

  3. Ý kiến đối với yêu cầu đề nghị hủy Giấy chứng nhận.

    Như trên đã nhận định, việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 267834 ngày 23/11/2020 cho bà Khổng Thị Kim T3 là đúng quy định. Do đó, việc thu hồi, hủy Giấy chứng nhận đã cấp chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã được thi hành.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-Chi nhánh N trình bày:

  1. Diễn biến vụ việc:

    Thửa đất số 127, diện tích 3158m² tờ bản đồ số 32 xã P (theo hệ thống BĐĐC cũ) do bà Khổng Thị Kim T3 được UBND huyện N cấp giấy CNQSD đất số AN 315699 ngày 02/03/2009.

    Đến năm 2017, bà T3 lập thủ tục đề nghị cấp đổi giấy CNQSD đất từ thửa đất số 127 tờ bản đồ số 32 diện tích 3158m² (theo bản đồ địa chính xã P thành lập năm 1997) tương ứng với thửa 369 tờ bản đồ số 57 diện tích 3557m² (theo bản đồ địa chính xã P thành lập năm 2008), diện tích chênh lệch giữa bản đồ cũ và mới tăng 399m², được UBND xã P xác nhận nội dung là do đo đạc giữa bản đồ cũ và bản đồ mới, đất sử dụng ổn định không tranh chấp với các hộ lân cận, không mua thêm, không khai phá thêm (theo biên bản kiểm tra hiện trạng do UBND xã P lập và xác nhận ngày 30/06/2017). Đến ngày 19/07/2017, Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đ (thừa ủy quyền Sở T) cấp đổi Giấy chứng nhận mới số CI 837325 ngày 19/07/2017 cho bà T3, thuộc thửa 369 diện tích 3557m² tờ bản đồ số 57 xã P nêu trên.

    Đến năm 2020, bà T3 lập thủ tục hồ sơ cấp lại Giấy chứng nhận (lý do bản chính Giấy chứng nhận số CI 837325 ngày 19/07/2017 bị mất) đối với thửa 369 diện tích 3557m² tờ bản đồ số 57 xã P nêu trên (theo hồ sơ ngày 10/07/2020, bà T3 lập đơn có mất Giấy chứng nhận nêu trên với Ban công an xã P, huyện N và được Ban Công an xã P xác nhận ngày 10/07/2020. Ngày 11/08/2020, UBND xã P đã niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận nếu trên sau thời gian 30 ngày, kể từ ngày 11/03/2020 đến ngày 12/09/2020, UBND xã P không nhận được bất cứ khiếu nại, tranh chấp nào đến thửa đất nêu trên. Ngày 12/09/2020, UBND xã P lập biên bản kết thúc danh sách niêm yết công khai mất giấy lập ngày 11/08/2020 của UBND xã P. Ngày 12/09/2020, UBND xã P xác nhận đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận của bà không Thị Kim T3).

    Đến ngày 23/11/2020, Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đ (thừa ủy quyền Sở T) ban hành Quyết định số 1713/QĐ-STNMT về việc Hủy giấy chứng nhận số CI 837325 ngày 19/07/2017 mang tên bà Khổng Thị Kim T3 và đồng thời cấp lại Giấy chứng nhận mới số CY 267834 ngày 23/11/2020 thuộc thửa 369 diện tích 3357m² tờ bản đồ số 57 xã P cho bà Khổng Thị Kim T3.

  2. Ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Bùi Xuân Á:

    Việc phía nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm: Hủy giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số CY 267834 cấp ngày 23/11/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Khổng Thị Kim T3 đối với thửa đất số 369, tờ bản đồ số 57 xã P, huyện N (theo hệ thống BĐĐC mới). Về việc này, có ý kiến như sau:

    Căn cứ các biên bản kiểm tra hiện trạng thực tế thửa đất của UBND xã P xác lập và Căn cứ Điều 37, Điều 76 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và khoản 5, Điều 98, Điều 105, Luật Đất đai năm 2013 thì việc Cấp đổi giấy CNQSD đất số CI 837325 ngày 19/07/2017 cho bà Khổng Thị Kim T3, đối với thửa 369 diện tích 3557m² tờ bản đồ số 57 (theo bản đồ địa chính xã P thành lập năm 2008) là đúng theo quy định của pháp luật và đúng theo hiện trạng thực tế sử dụng đất.

    Căn cứ Điều 37, Điều 77 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 105, Luật đất đai năm 2013 thì việc cấp lại giấy CNQSD đất số CY 267834 ngày 23/11/2020 cho bà Khổng Thị Kim T3 (với lý do giấy chứng nhận bị mất), đối với thửa 36 diện tích 3557m² tờ bản đồ số 57 (theo bản đồ địa chính xã P thành lập năm 2008) là đúng theo quy định của pháp luật.

    Do đó, việc ông Bùi Xuân Á yêu cầu Toà án giải quyết huỷ giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 267834 cấp ngày 23/11/2020 cấp cho bà Khổng Thị Kim T3 đối với thửa đất số 369, diện tích 3557m² tờ bản đồ số 57 xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai là không có cơ sở.

* Ông Hồ Văn T4 là người đại diện theo ủy quyền củ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Khổng Thị Kim T3 trình bày:

Ông T4 xác định bà T3 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 127 tờ bản đồ số 32 xã P (bản đồ cũ) của bà Tám B (tên địa phương- không rõ tên họ cụ thể) vào năm 2009 và được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 315699 ngày 02/3/2009 với diện tích 3158m². Đất của ông Á giáp ranh với đất của bà T3, đất của ông Á là đất trồng cây lâu năm nên có bề mặt nền đất cao hơn so với đất của bà T3. Hai thửa đất có ranh giới là hàng dừa và gò đất, đến hiện tại hàng dừa và gò đất vẫn hiện hữu.

Năm 2017 bà T3 làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 837352 ngày 19/7/2017 số thửa mới là thửa 369 tờ bản đồ số 57 xã P, với diện tích 3557m²

Về quá trình quản lý sử dụng đất: Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ năm 2009, bà T3 cho ông T4 thuê đất để canh tác trồng lúa, trồng mía. Đến năm 2020 do điều kiện kinh tế nên từ năm 2020 đến hiện tại ông không trồng gì trên đất nữa, để trống đất đến nay. Trong quá trình quản lý sử dụng ông không thấy, không có thông tin nào về việc ông Á tranh chấp quyền sử dụng đất. Đến năm 2021 ông Á mới có đơn khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T3.

Về việc tăng diện tích sau khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Thửa 127 (cũ) có một phần giáp kênh rạch. Thời điểm năm 2009 khi đo đạc, lập bản đồ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ theo thực tế là từ phần sát kênh rạch bị ngập nước, cây mọc hoang. Đến khoảng năm 2015 ông T4 canh tác trồng lúa nên đã chặt bỏ cây cỏ mọc hoang, năm 2017 khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ hiện trạng thực tế nên ghi nhận diện tích đất của bà T3 tăng lên. Bà T3 không lấn đất của ông Á, do đó, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Á.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 94/2022/HC –ST ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên xử:

- Căn cứ Điều 30, Điều 32, điểm d Điều 157, khoản 1, khoản 3 Điều 158, Điều 193, Điều 194, Điều 357, 358, 359 Luật tố tụng hành chính 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí tòa án.

- Áp dụng Điều 97, Điều 98, Điều 99, Điều 100, Điều 105, Điều 106, Điều 203 Luật đất đai; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân Á về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 267834 ngày 23/11/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Khổng Thị Kim T3 đối với thửa đất số 369 tờ bản đồ số 57 xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 16/11/2022, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Lê Huy H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy bản án sơ thẩm với lý do cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân Á.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Khổng Thị Kim T3 đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Huy H làm trong hạn luật định nên hợp lệ. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.

Về nội dung: Ông Bùi Xuân Á khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số VY 267834 ngày 23/11/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Khổng Thị Kim T3 đối với thửa đất số 369 tờ bản đồ số 57 xã P, huyện N là sai, chồng lấn lên đất của ông Á nhưng ông Á không chứng minh được diện tích bị chồng lấn, lấn chiếm sai lệch bao nhiêu. Người khởi kiện kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ, tình tiết nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe quan điểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

  1. [1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Huy H đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện có mặt trong sáng ngày 16/5/2024 nhưng có đơn xin vắng mặt, do phiên tòa xét xử vào chiều 16/5/2024, người bị kiện được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần mà vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 157 và Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt theo quy định.

    Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp “Khiếu kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 32 Luật tố tụng hành chính là đúng thẩm quyền giải quyết.

  2. [2]. Về nội dung: Ông Bùi Xuân Á được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 489263 cấp ngày 08/4/2008 công nhận diện tích 958 m² (trong đó có 300 m² đất ở nông thôn và 658 m² đất trồng cây lâu năm), thửa đất 126 tờ bản đồ số 32 xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Hiện ông Á vẫn chưa cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo nền bản đồ địa chính mới.

    Bà Khổng Thị Kim T3 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 127 tờ bản đồ số 32, xã P (bản đồ cũ) của bà Tám B (tên địa phương) năm 2009. Ngày 02/3/2009, bà được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 315699 với diện tích 3158 m² (theo bản đồ địa chính năm 1997). Ngày 19/7/2017, bà T3 được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp đổi Giấy chứng nhận mới số CI 837325 ngày 19/7/2017.

    Năm 2020, bà T3 lập thủ tục hồ sơ cấp lại Giấy chứng nhận (lý do bản chính Giấy chứng nhận số CI 837325 ngày 19/07/2017 bị mất), ngày 23/11/2020, Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đ ban hành Quyết định số 1713/QĐ-STNMT về việc Hủy giấy chứng nhận số CI 837325 ngày 19/07/2017 mang tên bà Khổng Thị Kim T3 và đồng thời cấp lại Giấy chứng nhận mới số CY 267834 ngày 23/11/2020 thuộc thửa 369 diện tích 3357m² tờ bản đồ số 57 xã P cho bà Khổng Thị Kim T3.

    Ông Bùi Xuân Á cho rằng Sở T đã cấp chồng lấn đất của bà T3 lên đất của ông nên ông yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 267834 cấp ngày 23/11/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Khổng Thị Kim T3 đối với thửa đất số 369, tờ bản đồ số 57, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

    [2.1]. Xét kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:

    Ngày 28/01/2008 ông Bùi Xuân Á nhận chuyển nhượng diện tích 958m² tại xã P, huyện N của ông Dương Thanh L thuộc thửa đất số 126 tờ bản đồ số 32 (cũ) xã P. Ngày 08/4/2008, ông Bùi Xuân Á được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 489263. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Á được biên vẽ theo bản đồ địa chính xã P thành lập năm 1997 thể hiện tại trích lục và biên vẽ bản đồ địa chính thửa đất số 1691/2008, không đối soát ngoài thực địa.

    Bà Khổng Thị Kim T3 là chủ sử dụng thửa đất số 127, tờ bản đồ số 32 (cũ) xã P, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2009 dựa trên bản đồ địa chính xã P lập năm 1997. Năm 2008, khu vực xã P được tiến hành đo đạc, kiểm tra lại và thành lập bản đồ địa chính xã (bản đồ địa chính năm 2008) tại vị trí các thửa đất 126, 127 (cũ) đã được phân tách thành nhiều thửa đất khác nhau.

    Năm 2017, bà T3 có yêu cầu cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ theo biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất ngày 30/6/2017 của UBND xã P thể hiện thửa 127 tờ bản đồ số 32 (cũ) tương ứng với thửa 369 tờ bản đồ số 57 (mới), diện tích theo bản đồ mới là 3557m², tăng 399m² do đo vẽ giữa bản đồ cũ và bản đồ mới, không tranh chấp với các hộ lân cận. Tại bản trích lục và đo tách thửa bản đồ địa chính số 3488/2017 ngày 29/6/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- Chi nhánh N thể hiện theo bản đồ địa chính mới thửa 127 được phân tách thành nhiều thửa, qua đối soát ngoài thực địa thửa 127 (cũ) thuộc một phần các thửa 40, 328 (mới), sau khi tách các thửa tạm 40a diện tích 2728m² và 328a diện tích 829m², số thửa mới chính thức là 369 tờ bản đồ số 57 xã P (BL 300). Tại phiếu thẩm định hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/7/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- Chi nhánh N thể hiện theo bản đồ địa chính mới, diện tích thửa 369 là 3557m² tăng 399m² so với bản đồ cũ do bản đồ địa chính cũ có sai sót, ranh giới thửa đất không thay đổi so với thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/6/2022 và bản trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 8482/2022 ngày 22/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ thể hiện hiện trạng đất do ông T4 (là người đại diện theo ủy quyền của bà T3) chỉ dẫn có một phần diện tích chồng lấn với hiện trạng đất do ông Á chỉ dẫn là 161m², được giới hạn bởi các mốc (1,2,3,4,5,29,30,31,32,33,1). Hàng ranh ông T4 chỉ dẫn là hàng dừa khoảng 10 cây vẫn hiện hữu. Đồng thời, đối với diện tích ông Á chỉ dẫn hiện trạng có 01 con đường đất dẫn từ đường liên ấp vào các hộ dân sống phía sau, quá trình chỉ dẫn ranh mốc ông Á cũng không xác định được cụ thể phần diện tích đất ông quản lý sử dụng. Từ thời điểm ông Á nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2008, ông Á không rào chắn, không canh tác trên đất, người đại diện theo ủy quyền của ông Á cũng thừa nhận những cây dừa là do chủ đất cũ (ông L) trồng. Vì vậy, việc trình bày về quá trình quản lý sử dụng đất của bà T3, ranh mốc theo hàng dừa hiện hữu là có căn cứ theo đúng hiện trạng đất, bản đồ địa chính năm 2008 của xã P.

    Căn cứ theo văn bản số 6621/VPĐK.NT-ĐĐBĐ ngày 03/11/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- Chi nhánh N thể hiện qua kiểm tra rà soát cho thấy ranh giới giáp ranh giữa thửa đất của bà T3 và thửa 43 tờ bản đồ số 57 xã P có hiện trạng là bờ đất, hàng dừa cố định, phù hợp đúng với ranh được thể hiện trên bản đồ địa chính mới xã P thành lập năm 2008. Về ranh, hình thể và diện tích của các thửa đất giữa bản đồ thành lập năm 1997 với bản đồ thành lập năm 2008 xã P có sự thay đổi là do việc xác lập bản đồ địa chính hai thời điểm khác nhau, trong đó bản đồ địa chính năm 1997 (bản đồ cũ) thành lập bằng phương pháp ảnh hàng không kết hợp đo vẽ ngoại nghiệp, bản đồ năm 2008 (bản đồ mới) thành lập bằng phương pháp toàn đạc, đo vẽ trực tiếp ngoại nghiệp trên cơ sở tọa độ VN 2000.

    Như vậy, ông Á căn cứ theo bản đồ địa chính năm 1997 để xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T3 theo bản đồ địa chính năm 2008 không đúng thực tế sử dụng đất là không có cơ sở.

    [2.2].

    Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bản án sơ thẩm tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Ông Lê Huy H là đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng nhưng không cung cấp được chứng cứ, tài liệu nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm; đề nghị của Viện kiện sát là có căn cứ nên chấp nhận.

  3. [3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. [4]. Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Bùi Xuân Á (do ông Lê Huy H đại diện) phải chịu án phí hành chính phúc thẩm nhưng do ông Á là người cao tuổi nên được miễn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính;

Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Bùi Xuân Á; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 94/2022/HC-ST ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

  1. Tuyên xử:

    Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân Á về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 267834 ngày 23/11/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Khổng Thị Kim T3 đối với thửa đất số 369 tờ bản đồ số 57 xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Bùi Xuân Á (do ông Lê Huy H đại diện theo ủy quyền) được miễn án phí.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - NKK;
  • - NBK;
  • - Người CQLNVLQ;
  • - Lưu: HS, VP, 256 TTPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Trí Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 405/2024/HC-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 405/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Bùi Xuân A kiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai về “Khiếu kiện yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Bùi Xuân Ái; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 94/2022/HC-ST ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger