|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 405/2024/DS-PT Ngày 08 - 8 - 2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Thạch
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tài
- Bà Trần Thị Thắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05 và 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 235/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 360/2024/QĐ-PT ngày tháng năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1958; địa chỉ: ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Quang P, sinh năm 1958; địa chỉ: ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương (Hợp đồng ủy quyền ngày 08/6/2022); có mặt.
- Bị đơn: Bà Đặng Thị Đ, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Quang P, sinh năm 1958; địa chỉ: ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bà Trần Nữ Ngọc Á, sinh năm 1990; địa chỉ: số A, đường N, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Bà Trần Nữ Ngọc S, sinh năm 1985; địa chỉ: số C, Chung cư C, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Những người làm chứng:
- Ông Bùi Văn T1, sinh năm 1967, đăng ký thường trú: ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bà Đặng Thị H, sinh năm 1965, đăng ký thường trú: ấp D, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Ngô Văn C, sinh năm 1988, đăng ký thường trú: ấp H, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1961, đăng ký thường trú: ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Ông Đặng Văn T2, sinh năm 1956, đăng ký thường trú: ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bà Đặng Thị Đ là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đặng Thị T và đại diện của nguyên đơn ông Trần Quang P trình bày:
Phần đất thuộc thửa đất số 193 tờ bản đồ số 13, tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc do nguyên đơn Đặng Thị T khai phá năm 1981, ngày 18 tháng 4 năm 1994 bà T được Ủy ban nhân dân (nay viết là UBND) huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 25 tháng 7 năm 2002 UBND huyện D cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số cấp giấy chứng nhận 00703 QSDĐ/QĐ-UB.
Vào khoảng năm 1982, gia đình bà Nguyễn Thị B (mẹ của bà Đặng Thị Đ) về nhận chuyển nhượng thửa đất số 148 sinh sống, canh tác. Đến năm 1994, bà B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi tách huyện D, bà B mới được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi bà B làm thủ tục tặng cho thửa đất số 148 cho bà Đ, bà T có ký liên ranh đất. Khi ký liên ranh đất nguyên đơn thấy ranh đất bà B chỉ không đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà T chấp nhận nhường phần ranh đất thể hiện theo ranh đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như hiện nay bà Đ được cấp giấy chứng nhận.
Nguồn gốc và quá trình sử dụng phần đất tranh chấp diện tích 168m² thể hiện tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 1237-2022 ngày 20 tháng 10 năm 2022, của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D nằm trong thửa số 193 là do bà T khai phá năm 1981. Khi bà T trồng cây cao su năm 2002 thì bà để trống phần đất hiện nay đang tranh chấp, để có khoảng trống cho cây cao su phát triển, tránh ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của bà B. Năm 2003, bà T làm hàng rào kẽm gai, ngăn cách với đất của bà B để ngăn trâu bò phá cây. Khi bà B còn sống, hai bên không phát sinh tranh chấp ranh đất. Khoảng năm 2012 bà B thanh lý cây cao su và trồng lại cây cao su như hiện nay. Khi thấy đất trống ảnh hưởng đến cây cao su đang khai thác (có khoảng trống làm gió thổi mạnh, cây cao su dễ bị ngã, đổ, bật gốc) nên bà T trồng các cây cao su trên phần đất tranh chấp như hiện nay, số cây cao su này trồng sau số cao su gia đình bà B trồng 01 năm. Do bà T mua giống cây cao su trôi nổi, bị các cây cao su lớn xung quanh chèn ép nên những cây cao su này không phát triển tốt.
Năm 2017, khi bà Đ làm sổ đất, hai bên đã xác định lại ranh đất theo ranh đất mà bà Đ đã chỉ khi Toà án đo đạc tranh chấp. Ngày 07 tháng 02 năm 2022, bà T phát hiện bà Đặng Thị Đ và chị là bà Đặng Thị H tự ý di dời hàng rào kẽm gai sang vị trí như hiện trạng ranh đất tranh chấp mà bà Đ đã hướng dẫn cho Tòa án đo đạc tranh chấp, gia đình bà T có báo chính quyền và được tổ chức hòa giải nhưng không thành, do bà Đ không thừa nhận lấn chiếm. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Đ trả lại phần đất diện tích 168m² thuộc một phần thửa đất số 193, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện D, đã lấn chiếm của gia đình bà T.
Bà T xác định phần đất tranh chấp diện tích 168m² là tài sản chung của vợ chồng bà T, ông P nên yêu cầu phía bà Đ phải trả phần đất 168m² cho vợ chồng bà T, ông P.
Nguyên đơn thống nhất với kết quả đo đạc, thẩm định theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và M trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 1237 – 2022 ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D, phần đất tranh chấp có tổng diện tích 168m² CLN, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương và kết quả định giá theo Biên bản định giá tranh chấp ngày 18 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và yêu cầu lấy trị giá này này để giải quyết vụ án.
Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Đặng Thị Đ và đại diện của bị đơn ông Cao Văn Đ1 thống nhất trình bày:
Phần đất thuộc thửa đất số 148 tờ bản đồ số 13, tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương do mẹ của bà Đ là bà Nguyễn Thị B (chết năm 2021) tặng cho bà Đ vào năm 2009, bà Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 071074, số vào số cấp giấy chứng thực H 03049/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 16 tháng 9 năm 2009. Đến năm 2017, bà Đ được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 047854, số vào số cấp giấy chứng nhận CS02532 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày 03 tháng 8 năm 2017.
Năm 2009, bà B tặng cho bà Đ thửa đất số 148 và các chị em của bà Đ cũng được tặng cho những phần đất giáp đường và giáp với thửa số 148, chiều dài khoảng 80m. Khi các chị em của bà Đ chuyển nhượng cho người khác thì lại chỉ chuyển nhượng theo chiều dài của đất mà bà H đã chuyển nhượng cho người khác là 50m nên còn dư ra các phần đất phía sau. Vì vậy, bà Đ làm hồ sơ để bổ sung các phần đất đó vào sổ của bà Đ năm 2017.
Thửa đất số 48 gia đình bà Đ nhận chuyển nhượng một phần vào năm 1980, sau đó khai phá thêm như hiện nay. Khi nhận chuyển nhượng gia đình bà Đ trồng điều, sau đó trồng cao su. Năm 2009, lúc bà B tặng cho đất các con trên đất đã có cao su. Năm 2010, bà B thanh lý cao su, năm 2011, bà Đ trồng lại cao su, có sự giúp đỡ của bà B và bà Đặng Thị H, sinh năm 1965; đăng ký thường trú: ấp D, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Bà H là người mua tum cao su, thiết kế hồ và phụ giúp trồng cao su. Số cây cao su trên đất tranh chấp đã được khai thác 04 năm là của bị đơn.
Phần đất thuộc thửa 193 tờ bản đồ số 13, toạ lạc tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc khi gia đình bà Đ về L sinh sống năm 1980 thì có gia đình bà Nguyễn Thị N1 đã sinh sống ở phần đất phía dưới. Khoảng năm 1984, theo yêu của bà N1, cha của bà Đ là ông Đặng Văn Đ2 có cho bà N1 một phần đất giáp với đất gia đình bà Đ để bà N1 cho con là bà Tám N2 (tên thường Gái N3) lấy chồng ở gần bà N1. Bà N1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau này bà N1 sang tên cho bà T đứng tên và sử dụng đất cho đến nay. Trên đất này trước kia cũng trồng điều, sau này mới trồng cao su cho đến nay.
Nguồn gốc và quá trình sử dụng phần đất tranh chấp diện tích 168m² thể hiện tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 1237-2022 ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D của gia đình bà Đ sử dụng từ năm 1980 cho đến nay. Cây cao su trên đất do cha bà Đ trồng năm 2011 cùng thời điểm với bị đơn trồng cao su lại trên thửa đất số 148 (bà H là người trực tiếp trồng cây cao su). Do bà B yêu cầu trồng dày để cản cây cao su bên đất nhà bà T, nên số cao su trồng gần nhau hơn, bị thiếu nắng nên cây không phát triển tốt. Những cây cao su này bà Đ cạo cùng một lượt với các cây cao su khác trên thửa số 148 nhưng do cây nhỏ, cạo phạm bên trong nên không khai thác thường xuyên. Bà Đ xác định chỉ có một mình bà Đ khai thác cây cao su trên đất tranh chấp.
Sau khi bà B chết khoảng hơn 01 tuần, ông P có đem bản liên ranh yêu cầu bị đơn ký liên ranh, bị đơn có nói là phần đất đang chờ đăng ký bổ sung nên chưa ký được. Ông P nói bản vẽ đã ra rồi chỉ ký là xong. Bị đơn không đồng ý ký vì bị đơn không được yêu cầu đến chỉ ranh đất. Sau đó, ông P, bà T thưa ra ấp, xã yêu cầu giải quyết. Ấp, xã có hòa giải theo hướng chia đôi phần đất tranh chấp, nhưng bà T, ông P không đồng ý nên khởi kiện. Hàng rào trên đất tranh chấp do bà Đ làm trước khi xảy ra tranh chấp.
Bà Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì phần đất tranh chấp diện tích 168m² tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương là quyền sử dụng đất của bà Đ, khi bà Đ được bà B cho đất, bà Đ sơ sót không đăng ký đủ diện tích và chưa kịp đăng ký bổ sung thì nguyên đơn tranh chấp.
Bị đơn thống nhất với kết quả đo đạc, thẩm định theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12 tháng 7 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng và M trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 1237 – 2022 ngày 20/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D, phần đất tranh chấp có tổng diện tích 168m² CLN, toạ lạc tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương và kết quả định giá theo biên bản định giá tranh chấp ngày 18/01/2023 của Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng và yêu cầu lấy trị giá này này để giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Quang P trình bày:
Thống nhất với ý kiến và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đa85ngt Thị Tuyết .
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Nữ Ngọc S trình bày:
Theo hộ khẩu thời điểm ghi bà S tên là Trần Thị S1, sinh năm 1987 nhưng bà S1 đã cải chính hộ tịch thành tên Trần Nữ Ngọc S, sinh năm 1985 cho phù hợp với tất cả các giấy tờ. Đối với phần đất tranh chấp là của cha mẹ bà S, không liên quan đến bà. Việc bà S đứng tên trong hộ khẩu là do là thành viên trong gia đình theo thủ tục hành chính, bà S không trực tiếp tham gia canh tác trên đất, không đóng góp công sức đối với phần đất tranh chấp. Thời điểm năm 2002, bà S còn đi học, sống phụ thuộc vào gia đình. Đối với yêu cầu của nguyên đơn bà S không có ý kiến gì, không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Nữ Ngọc Á trình bày:
Phần đất tranh chấp là của ba mẹ bà Á, không liên quan đến bà Á. Việc bà Á đứng tên trong hộ khẩu là do là thành viên trong gia đình theo thủ tục hành chính, bà Á không trực tiếp tham gia canh tác trên đất, không đóng góp công sức gì đối với phần đất này. Thời điểm năm 2002, bà Á còn đi học, sống phụ thuộc vào gia đình. Đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Á không có ý kiến gì, không có yêu cầu gì.
Người làm chứng ông Đặng Văn T2 trình bày:
Ông T2 là anh của bà Đặng Thị T và là chú của bà Đặng Thị Đ.
Phần đất thuộc thửa số 193 là của bà Nguyễn Thị N1 (mẹ của ông T2) khai phá và tặng cho bà T, thửa đất số 148 do chồng bà Trần Thị B1 là ông Đặng Văn Đ2 (anh họ của ông T2) nhận chuyển nhượng (ông T2 không nhớ thời gian ông Đ2 nhận chuyển nhượng) và canh tác, sau này bà B1 cho bà Đ đứng tên. Trước đây, hai miếng đất này trồng điều, sau này trồng cao su trên đất cho đến nay.
Phần đất diện tích 168m² mà các bên đang tranh chấp do ông P, bà T quản lý, sử dụng, phần đất này là của bà N1 cho bà T. Cao su trên đất tranh chấp là do ông P, bà T trồng và khai thác. Theo ông tài thì ranh đất được xác định từ cây lồng mức, ở điểm đo đạc số 20 đến điểm số 18 trên Mảnh trích lục đo đạc tranh chấp có chỉnh lý số 1237-2022 ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Đầu năm 2022 chính quyền ở ấp, xã có mời ông T2 đến cùng với nhân viên đo đạc của huyện D để xác minh nội dung liên quan đến ranh đất và phần đất chấp thì ông T2 cũng khai như trên.
Khi bà B1 còn sống các bên không xảy ra tranh chấp. Sau khi bà B1 chết, chị em bà Đ, bà H tự ý di dời hàng rào ranh đất nên xảy ra tranh chấp.
Người làm chứng bà Đặng Thị H trình bày:
Bà H là chị ruột của bà Đ, bà T là cô của bà Đ, bà H. Bà H sinh sống tại ấp D, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Trước đó bà H có sinh sống ở xã L từ năm 1980, đến năm 2019 chuyển về ấp D, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Bà H thống nhất với ý kiến trình bày của bà Đ về nguồn gốc đất tranh chấp, đất tranh chấp là của gia đình bà H. Mẹ của bà H (bà Nguyễn thị B) tặng cho em bà H là Đặng Thị Đ đứng tên năm 2009. Khi bà Đ trồng lại cao su năm 2011, bà H là người giúp bà H mua tum cao su và cùng trồng cao su trên đất với bà Đ.. Khi cao su đến tuổi khai thác, bà H là người thường xuyên cạo mũ thuê cho bà H. Khi ông P đem giấy yêu cầu bà Đ ký liên ranh thì bà H có biết. Khi hòa giải tranh chấp tại ấp và xã, các bên có hướng là chia đôi phần đất tranh chấp, nhưng ông P yêu cầu lấy hết cây cao su của bà Đ nên hòa giải không thành. Bà T, ông P khởi kiện bà Đ là không có cơ sở, thực tế gia đình ông P đã lấn chiếm đất của gia đình bà H.
Người làm chứng ông Nguyễn Hoàng N trình bày:
Ông N là em rể bà T và là anh em cột chèo với ông. Bà Đ là cháu gọi ông N bằng dượng. Ông N hiện đang cư trú tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Ông N sinh sống tại xã L từ năm 1978.
Phần đất thuộc thửa số 193 là của mẹ vợ ông N tên Nguyễn Thị N1 khai phá, bà N1 cho bà T một nửa, cho vợ ông N (bà Đặng Thị N4, sinh năm 1962) một nửa. Vợ chồng ông N sinh sống trên thửa số 193 phần giáp với đất thửa số 148. Sau này, vợ chồng ông N nhường phần đất của vợ chồng ông N cho bà T nên bà T canh tác toàn bộ đất như hiện nay. Thửa đất số 148 có nguồn gốc do ông Đặng Văn Đ2 nhận chuyển nhượng của ông Hai N5 (ông N không nhớ chính xác thời gian). Sau này bà B cho bà Đ đứng tên. trước đây, hai miếng đất này trồng điều, sau này trồng cao su trên đất cho đến nay.
Thửa số 184 trước đây là đất của ông N, sau này ông N chuyển nhượng cho ông V, ông V chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông T1.
Ông N có sinh sống trên phần đất nên biết phần đất diện tích 168m² mà các bên đang tranh chấp thuộc thửa số 193 do ông P, bà T quản lý, sử dụng. Cao su trên đất tranh chấp do ông P, bà T trồng, khai thác. Theo ông N, ranh đất được xác định từ cây lồng mức ở điểm đo đạc số 20 đến điểm số 18 trên Mảnh trích lục đo đạc tranh chấp có chỉnh lý số 1237-2022 ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Đầu năm 2022 chính quyền ấp, xã có mời ông N đến cùng với nhân viên đo đạc của huyện để xác minh nội dung liên quan đến ranh đất và phần đất hai bên tranh chấp, ông N có lời khai giống như trên.
Người làm chứng ông Bùi Văn T1 trình bày:
Ông T1 là hàng xóm của bà T, bà Đ và không có quan hệ họ hàng với hai người này. Ông T1 là người sử dụng phần đất thuộc thửa số 184 giáp ranh với đất của gia đình bà Đ (thửa số 148) và đất của bà T, ông P (thửa số 193).
Ông T1 sinh sống tại xã L từ năm 1991. Năm 1995, ông T1 có nhận chuyển nhượng thửa đất số 184 của anh vợ, đất do bà Chu Thị Thu H1 (vợ của ông T1) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T1 trực tiếp canh tác trên đất, trên đất của ông T1 có trồng cao su từ năm 1995.
Về nguồn gốc đất của hai bên, ông T1 không biết do ông T1 về sinh sống sau này, nhưng khi về L sinh sống, ông T1 đã thấy gia đình bà T, ông P canh tác thửa đất số 193, thửa số 148 là do mẹ của bà Đ canh tác, trên hai thửa đất đều trồng cao su.
Phần đất diện tích 168m² mà các bên đang tranh chấp ông T1 thấy ông P, bà T quản lý, sử dụng. Cao su trên đất do ông P trồng. Ông T1 biết ranh đất được xác định từ cây lồng mức ở điểm đo đạc số 20 đến điểm số 18 trên Mảnh trích lục đo đạc tranh chấp có chỉnh lý số 1237-2022 ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Ông T1 thấy ông P, bà T kéo dây kẽm gai đóng đinh lên cây lồng mức (điểm đo số 20) đến điểm số 18. Năm 2021, ông T1 là người cạo thuê mũ cao su cho ông P, khi ông T1 cạo mũ các cây cao su đất tranh chấp cho ông P không bị ai ngăn cản. Hiện nay hàng rào kẽm gai ông P, bà T rào đã bị tháo dỡ (ông T1 không biết ai tháo dỡ), hàng rào kẽm gai hiện nay từ điểm số 15, 16, 17 là do bà Đ tự rào đầu năm 2022, lúc này ông T1 không còn cạo mũ cao su thuê cho ông P. Đầu năm 2022 chính quyền ở ấp, xã có mời ông T1 đến cùng với nhân viên đo đạc của huyện để xác minh nội dung liên quan đến ranh đất và phần đất hai bên tranh chấp thì ông T1 cũng khai nội dung giống như trên. Năm 2022 ông T1 không thường xuyên đi thăm đất nên không biết ai đang trực tiếp khai thác cây cao su trên đất tranh chấp.
Người làm chứng ông Ngô Văn C trình bày:
Ông C là người cạo mũ cao su thuê cho bà Đ. Ông C không quen biết bà T, ông P. Ông C sinh sống ở ấp H, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Năm 2022, bà Đ thuê ông Cao C1 mũ cao su cho bà Đ ở ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương, với giá là 100.000 đồng/lát cạo. Số cây cao su này giáp với phần cây cao su đang cạo đục liên ranh. Ông C chỉ cạo mũ thuê cho bà Đ, ông C không biết nội dung tranh chấp giữa các bên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị T đối với bà Đặng Thị Đ về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Buộc bà Đặng Thị Đ trả lại cho bà Đặng Thị T và ông Trần Quang P phần đất diện tích 168m² thuộc thửa đất số 193, tờ bản đồ số 13 tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương, đất có tứ cận:
- Đông giáp thửa 148;
- Tây giáp thửa 184;
- Nam giáp thửa 193;
- Bắc giáp thửa 148.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
2. Chi phí đo đạc, định giá: Bị đơn bà Đặng Thị Đ phải nộp 6.994.445 đồng (sáu triệu, chín trăm chín mươi bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi lăm đồng) để trả lại cho bà Đặng Thị Tuyết .
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đặng Thị Đ phải chịu 4.200.000 đồng (bốn triệu, hai trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22 tháng 5 năm 2023, bà Đặng Thị Đ là bị đơn có đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Tuyết .
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: trên đất tranh chấp có tài sản là cây cao su, cây lồng mức, các đương sự có tranh chấp về tài sản trên đất nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, thẩm định và định giá nhưng không giải thích, hướng dẫn để đương sự yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài sản trên đất mà chỉ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là chưa giải quyết triệt để vụ án, khó khăn cho việc thi hành án nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án theo đúng quy định pháo luật.
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị Đ làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết là hợp lệ.
[2] Về nội dung: Các đương sự tranh chấp phần đất diện tích 168m² thuộc thửa đất số 193, tờ bản đồ số 13 tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Trên đất tranh chấp có cây cao su, nguyên đơn, đại diện nguyên đơn khai số cây cao su này do gia đình nguyên đơn trồng và khai thác. Bị đơn bà Đặng Thị Đ xác định cây cao su là do gia đình bị đơn trồng và khai thác. Tại Biên bản Xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26 tháng 10 năm 2023, bà T, bà Đ đều khẳng định số cây cao su trên đất do mình trồng, khai thác. Nguyên đơn và bị đơn xác định có tranh chấp cây cao su trên đất từ cấp sơ thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm có xem xét thẩm định và định giá tài sản, xác định trên đất tranh chấp có 26 cây cao su, 01 cây lồng mức nhưng không giải thích cho đương sự biết họ có tranh chấp về cây trồng trên đất để đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định, mà nhận định các đương sự không tranh chấp về tài sản trên đất tranh chấp, không giải quyết tranh chấp tài sản trên đất là giải quyết không triệt để vụ án, gây khó khăn cho công tác thi hành án, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục nên cần hủy bản án sơ thẩm để Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án theo đúng quy định pháo luật.
[6] Yêu cầu kháng cáo của bị đơn là có cơ sở chấp nhận một phần.
Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp.
Án phí phúc thẩm bà Đặng thị Đ không phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều: 147; 148; khoản 3, Điều 308; D9ie62u 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự.;
- - Căn cứ các Điều: 122, 131, 328 của Bộ luật Dân sự;
- - Các Điều 5, 26, 166, 203 của Luật Đất đai năm 2013;
- - Căn cứ các Điều: 26, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Đặng Thị Đ. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Dầu tiếng, tỉnh Bình Dương để giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
- Về án phí phúc thẩm: Hoàn trả cho bà Đặng Thị Đ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0008911 ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Thạch |
Bản án số 405/2024/DS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 405/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hủy án sơ thẩm
