Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4040/2024/DS-ST

Ngày: 28/8/2024

V/v: Tranh chấp Hợp đồng

vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng;
  2. Bà Nguyễn Thị Hương;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh P- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1289/2023/TLST- DS ngày 04 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5010/2024/QĐXXST- DS ngày 11 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 6154/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ T, sinh năm: 1968;

    Địa chỉ thường trú: 2 C, phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;

    Địa chỉ liên hệ: 6 P, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

    Đại diện ủy quyền cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T: Ông Phạm Thanh H, sinh năm: 1999;

    Địa chỉ: 3 V, phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;

    (theo Giấy ủy quyền số 017881 ngày 05/12/2023); (có mặt);

  2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T: Ông Võ Quang V, sinh năm: 1975;

    Địa chỉ: 3 V, phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt);

  3. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm: 1972;

    Địa chỉ cư trú cuối cùng: Căn hộ A chung cư T, số A đường A, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt);

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Quốc B, sinh năm: 1968;

    Địa chỉ: 2 N, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2020 và trong quá trình tố tụng đại diện ủy quyền cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T là ông Phạm Thanh H trình bày như sau:

Ngày 16/12/2019, bà Huỳnh Thị H1 có mượn của bà Huỳnh Thị Mỹ T số tiền 600.000.000 đồng, bà H1 cam kết trả lại toàn bộ số tiền nêu trên, trong thời hạn 10 ngày, tính từ ngày 16/12/2019. Tuy nhiên, đã quá thời hạn 10 ngày mà bà H1 không chịu trả, mặc dù bà T đã nhiều lần yêu cầu bà H1 trả lại số tiền 600.000.000 đồng;

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Huỳnh Thị H1 phải trả một lần cho bà T số tiền 600.000.000 đồng.

Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

Tại Đơn trình bày ngày 10/12/2020, bị đơn bà Huỳnh Thị H1 trình bày:

Tại thời điểm tháng 04/2017, bà khó khăn về tài chính, bà vay của bà T số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, 60%/năm để bà trả khoản vay bà vay của người khác, từ tháng 04/2017 đến ngày 15/02/2019, bà vẫn trả lãi cho bà T đúng hạn; tuy nhiên, số tiền gốc 150.000.000 đồng bà không trả được nên bà T yêu cầu bà trả lãi suất là 7.5%/tháng;

Ngày 15/02/2019, bà H1 vay thêm của bà T số tiền 1.000.000.000 đồng, bà Tâm tính T1 tổng cộng lại toàn bộ số tiền (gồm: tất cả các khoản nợ mới, lãi và ti ền gốc 150.000.000 đồng) bà vay kể từ ngày 15/02/2019 là 1.237.000.000 đồng. Bà T yêu cầu bà phải trả lãi cho bà T như sau: từ ngày 15/02/2019 đến ngày 15/6/2019 cho vay lãi suất 9%/tháng (108%/năm), từ ngày 16/6/2019 đến ngày 15/10/2019 cho vay với lãi suất 7%/tháng (84%/năm);

Ngày 15/7/2019, bà đã trả cho bà T số tiền 1.000.000.000 đồng;

Đến ngày 15/10/2019, bà T nhận thấy bà mất khả năng trả nợ nên bà T đồng ý không tính tiền lãi từ ngày 15/10/2019 đến nay;

Đến tháng 11/2019, bà T lấy của bà 03 mảnh đất lần lượt giá trị như sau: 400.000.000 đồng + 250.000.000 đồng + 400.000.000 đồng= 1.050.000.000 đồng;

Bà nhận thấy bà Tâm T2 lãi với bà quá cao, bà tính toán lại thấy rằng số tiền bà đã trả cho bà T và tài sản đưa cho bà T vượt số tiền bà vay, bà đã trả dư cho bà T số tiền 688.689.036 đồng, yêu cầu bà T trả lại số tiền này cho bà;

Ngoài ra, bị đơn không có yêu cầu gì khác;

Tại Bản tự khai ngày 12/3/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Quốc B trình bày:

Ông xác nhận Giấy mượn tiền ngày 16/12/2019 giữa bà Huỳnh Thị H1 (vợ ông) với bà Huỳnh Thị Mỹ T số tiền 600.000.000 đồng là việc cá nhân của bà H1, không có chi tiêu liên quan trong gia đình. Việc bà H1 mượn tiền và viết giấy mượn tiền, ông hoàn toàn không biết;

Ngoài ra, ông B không có yêu cầu gì khác;

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện ủy quyền cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T là ông Phạm Thanh H trình bày:

  • + Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Huỳnh Thị H1 trả lại số tiền 600.000.000 đồng, không tính lãi suất;
  • + Chồng bà Huỳnh Thị Mỹ T là ông Phạm Hồng T3 đã mất từ năm 2014 theo Giấy chứng tử số 93/2014, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/10/2014. Sau khi chồng mất, bà T sống độc thân đến nay;
  • + Căn cứ vào Sổ phụ tài khoản mang tên Huỳnh Thị H1 thể hiện ngày 04/7/2019 “nợ- 1.650.000.000 đồng” và ngày 01/8/2019 “nợ- 2.000.000.000 đồng”, hai khoản tiền này là trong giai đoạn bà T và bà H1 có mối quan hệ làm ăn với nhau, hai khoản tiền này phát sinh trước thời điểm ngày 16/12/2019 mà bà H1 mượn của bà T số tiền 600.000.000 đồng và không liên quan đến đến số tiền 600.000.000 đồng mà bà H1 mượn của bà T;

- Bị đơn bà Huỳnh Thị H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Quốc B vắng mặt tại phiên tòa;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định của pháp luật; tuy nhiên, còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T.

Buộc bị đơn bà Huỳnh Thị H1 thanh toán cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T số tiền 600.000.000 đồng;

Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, có cơ sở xác định đây là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”. Do bị đơn bà Huỳnh Thị H1 có địa chỉ cư trú cuối cùng: Căn hộ A chung cư T, số A đường A, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Huỳnh Thị H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Quốc B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự;

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ vào Giấy mượn tiền ngày 16/12/2019, bà Huỳnh Thi H2 có mượn bà Huỳnh Thị Mỹ T số tiền 600.000.000 đồng, bà H2 cam kết trả lại số tiền trên trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày 16/12/2019. Tuy nhiên, quá thời hạn nêu trên, bà H2 không thanh toán số tiền 600.000.000 đồng cho bà T;

Tại Đơn trình bày ngày 10/12/2020, bà H2 trình bày: Tại thời điểm tháng 04/2017, bà H2 khó khăn về tài chính, bà H2 vay của bà T số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, 60%/năm để bà H2 trả khoản vay bà H2 vay của người khác, từ tháng 04/2017 đến ngày 15/02/2019, bà H2 vẫn trả lãi cho bà T đúng hạn; tuy nhiên, số tiền gốc 150.000.000 đồng bà H2 không trả được nên bà T yêu cầu bà H2 trả lãi suất là 7.5%/tháng;

Ngày 15/02/2019, bà H2 vay thêm của bà T số tiền 1.000.000.000 đồng, bà Tâm tính T1 tổng cộng lại toàn bộ số tiền (gồm: tất cả các khoản nợ mới, lãi và tiền gốc 150.000.000 đồng) bà H2 vay kể từ ngày 15/02/2019 là 1.237.000.000 đồng. Bà T yêu cầu bà H2 phải trả lãi cho bà T như sau: từ ngày 15/02/2019 đến ngày 15/6/2019 cho vay lãi suất 9%/tháng (108%/năm),

từ ngà y 16/6/2019 đến ngày 15/10/2019 cho vay với lãi suất 7%/tháng (84%/năm);

Ngày 15/7/2019, bà H2 đã trả cho bà T số tiền 1.000.000.000 đồng;

Đến ngày 15/10/2019, bà T thấy bà H2 mất khả năng trả nợ nên bà T đồng ý không tính tiền lãi từ ngày 15/10/2019 đến nay;

Đến tháng 11/2019, bà T lấy của bà 03 mảnh đất lần lượt giá trị như sau: 400.000.000 đồng + 250.000.000 đồng + 400.000.000 đồng= 1.050.000.000 đồng;

Bà H2 nhận thấy bà Tâm T2 lãi với bà quá cao, bà H2 tính toán lại thấy rằng số tiền bà H2 đã trả cho bà T và tài sản đưa cho bà T vượt số tiền bà H2 vay, bà H2 đã trả dư cho bà T số tiền 688.689.036 đồng, yêu cầu bà T trả lại số tiền này cho bà H2;

Căn cứ vào Biên bản làm việc ngày 25/02/2020 giữa bà Lê Thị Mỹ D (thời điểm bà T ủy quyền cho bà D) với bà Huỳnh Thị H1 thì bà H1 trình bày “... đầu tháng 12/2019, bà và bà Huỳnh Thị H1 sau khi trừ các khoản nợ đất đai ở N, trừ tiền trả tiền mặt đã nhận 02 miếng đất thì còn lại 600.000.000 đồng, bà đã ký xác nhận số nợ 600.000.000 đồng nhưng không ghi thời hạn trả nợ”. Bà H1 đưa ra phương án và thời hạn trả mỗi năm trả số tiền là 50.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ 600.000.000 đồng nhưng bà D không chấp nhận;

Hội đồng xét xử nhận thấy, bà H1 không có cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện bà H1 có vay của bà T số tiền 150.000.000 đồng, 1.000.000.000 đồng và số tiền lãi đã trả cho hai khoản vay này; đồng thời, hai khoản vay này trước thời điểm ngày 16/12/2019 mà bà H1 vay của bà T số tiền 600.000.000 đồng; trong quá trình giải quyết vụ án, bà H1 cũng không làm Đơn yêu cầu phản tố về việc yêu cầu bà T trả lại cho bà H1 số tiền 688.689.036 đồng nên lời trình bày này của bà H1 không có căn cứ chấp nhận. Bà H1 thừa nhận có vay bà T số tiền 600.000.000 đồng nhưng Giấy mượn tiền ngày 16/12/2019 không ghi thời hạn trả nợ- nhưng bà H1 không cung cấp được cho Tòa án ngoài Giấy mượn tiền ngày 16/12/2019 nêu trên thì giữa bà H1 và bà T có Giấy mượn tiền ngày 16/12/2019 nào khác không nên lời trình bày này của bà H1 là không có cơ sở;

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Huỳnh Thị H1 trả một lần cho nguyên đơn số tiền 600.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát;

[3.2] Về lãi suất: Giấy mượn tiền ngày 16/12/2019 là Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc không đầy đủ thì theo yêu cầu bên cho vay, Tòa án xác định bên vay phải trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm

2015 trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác;

[4] Về án phí: Bị đơn bà Huỳnh Thị H1 phải chịu 28.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các điều 278, 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015

Căn cứ và o Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T;

    Buộc bị đơn bà Huỳnh Thị H1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T số tiền 600.000.000 (Sáu trăm triệu) đồng;

    Phương thức và thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu bà Huỳnh Thị H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thì bà Huỳnh Thị H1 còn phải trả cho bà Huỳnh Thị Mỹ T số tiền lãi trên số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
  3. Về án phí:
    • - Bị đơn bà Huỳnh Thị H1 chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 28.000.000 (Hai mươi tám triệu) đồng.
    • - H3 lại cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.000.000 (Mười bốn triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2019/0056518 ngày 06/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án xin xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thúy Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4040/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 4040/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger