Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 404/2024/DS-PT

Ngày 24-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán: Ông Dương Hùng Quang

Ông Nguyễn Thành Lập

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 286/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 89/2024/DS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 236/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Minh Đ, sinh năm 1977 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn:

1. Ông Phạm Hữu M, sinh năm 1975 (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Hữu M: Ông Tạ Quốc N, sinh năm: 1999. Địa chỉ cư trú: Khóm F, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Theo văn bản ủy quyền ngày 10/9/2024 (có mặt).

2. Bà Võ T (K) K, sinh năm 1978 (có mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau;

- Người kháng cáo: Ông Phạm Hữu M, bà Võ T (K) Khuyên là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Võ Minh Đ trình bày: Ngày 06/12/2021 ông Đ có cho ông M vay số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), ông M tự viết giấy biên nhận đưa ông Đ làm bằng chứng, ông M tự cam kết sẽ đóng lãi cho ông Đ mỗi tháng là 0,4%/tháng. Khi đến tháng đóng lãi, ông M không đóng như cam kết, ông Đ yêu cầu vợ chồng ông M thanh toán nhưng vợ chồng ông M hứa hẹn nhiều lần nhưng không thực hiện.

Đến giữa năm 2022, ông Đ tiếp tục đòi nợ thì ông M nói không có khả năng trả một lần, do biết ông Đ đang chơi hụi của ông Nguyễn Thành T1 (ngụ cùng ấp) nên vợ chồng ông M kêu ông Đ cho ông M mượn một dây hụi 2.000.000 đồng, có 34 người chơi, ông Đ đồng ý, sau đó ông Đ tiếp tục lấy tiền của mình giao cho ông M là 43.550.000 đồng, xem như ông Đ đã hốt hụi nhưng thực tế dây hụi này đang còn sống, về phía ông M hàng tháng ông M trả cho ông Đ 2.000.000 đồng trả trong vòng 33 tháng, xem như đóng hụi chết lại cho ông Đ. Sau khi giao tiền thì ông M có trả lại cho ông Đ được 40.000.000 đồng, ông giữ lại 3.550.000 đồng để thả tôm nên xin nợ lại 10.000.000 đồng tiền vay gốc cùng với tiền lãi từ ngày 06/12/2021. Sau khi cho mượn hụi mỗi tháng vợ chồng ông M phải trả cho ông Đ 2.000.000 đồng x 33 kỳ hụi = 66.000.000 đồng để ông Đ đóng hụi nhưng từ khi cho mượn hụi đến nay vợ chồng ông M không thực hiện theo lời cam đoan của mình. Vợ chồng ông M còn nợ ông Đ tổng cộng là: 10.000.000 đồng + 66.000.000 đồng = 76.000.000 đồng, ông Đ không yêu cầu tính lãi mà chỉ yêu cầu trả tiền nợ gốc.

Ông Đ yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết, vợ chồng ông M thừa nhận có vay của ông Đ số tiền 50.000.000 đồng, thừa nhận mượn hụi của ông Đ, ông M cam kết đóng lại hàng tháng nhưng không thực hiện. Ông Đ khẳng định ông không có bán số đề cho ông M và ông M không có đóng hụi lại cho ông.

Ông Võ Minh Đ yêu cầu ông Phạm Hữu M phải trả cho ông số tiền nợ là 76.000.000₫ (bảy mươi sáu triệu đồng). Ông không yêu cầu tính lãi và không yêu cầu bà Võ T (K1) Khuyên thanh toán nợ cho ông.

Ông Phạm Hữu M trình bày: Ông có thiếu tiền số đề của ông Đ trên 10.000.000 đồng, ông sợ ông Đ gây áp lực lên việc học của con ông (vì ông Đ nói có quen biết bên sở giáo dục) nên ông Đ kêu ông ghi giấy nợ cho ông Đ, giấy nợ có nội dung: “Ngày 06-12-2021VL tôi Phạm Hữu M có nhờ em Võ Minh Đ hỏi số tiền là 50.000.000 năm chục triệu một tháng lãi xuất 0,4 tháng đúng tháng đống lời cho ông Võ Minh Đ theo giấy tờ, ngày 06/12/2021 VL Măng Phạm Hữu M”. Đối với “Tờ hùng Vốn” ngày 05/9/2022 ông M xác định không phải chữ viết và chữ ký của ông. Tuy nhiên, ông M thừa nhận có kêu ông Đ hốt dây hụi 2.000.000 đồng của ông Đ đang chơi của ông Nguyễn Thành T1, ông Đ đồng ý và có hốt được số tiền 43.000.000 đồng, ông Đ trừ nợ hết 40.000.000 đồng, ông M còn nợ ông Đ 10.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi ông M đóng hụi chết lại cho ông Đ mỗi kỳ là 2.000.000 đồng, đóng 33 kỳ. Ông M đã đóng cho ông Đ được 09 kỳ, khi đóng hụi ông Đ không có làm biên nhận cho ông.

Do đây là tiền số đề nên ông không đồng ý thanh toán cho ông Đ.

Bà Võ T (K1) K trình bày: Ông Đ yêu cầu chồng bà là ông Phạm Hữu M thanh toán tiền vay 10.000.000 đồng và tiền hụi 66.000.000 đồng là nợ riêng giữa ông Đ với ông M, không liên quan đến bà.

2

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2024/DS-ST ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Minh Đ về việc yêu cầu ông Phạm Hữu M thanh toán nợ vay. Buộc ông Phạm Hữu M có nghĩa vụ thanh toán cho ông Võ Minh Đ số tiền còn nợ là 76.000.000 đồng (bảy mươi sáu triệu đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất do chậm thi hành, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 25/7/2024 bị đơn là ông Phạm Hữu M và bà Võ T (K1) K có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không buộc ông bà phải trả tiền hụi cho ông Đ 33 kỳ bằng 66.000.000 đồng. Đối trừ số tiền ông bà đóng hụi cho ông Đ 09 kỳ mỗi kỳ là 2.000.000 đồng bằng 18.000.000 đồng vào số tiền nợ theo biên nhận 50.000.000 đồng. Số tiền còn lại ông bà đồng ý trả cho ông Đ và lãi suất theo quy định bằng 1,66%/tháng.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn ông Võ Minh Đ không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Phạm Hữu M vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị đơn bà Võ T (K1) Khuyên xin rút lại yêu cầu kháng cáo với lý do bản án sơ thẩm không tuyên buộc trách nhiệm đối với bà K nên không ảnh hưởng gì đến quyền lợi của bà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Võ T (K) Khuyên, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn là ông Phạm Hữu M, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 89/2024/DS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của bà Võ T (K1) Khuyên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà K xin rút lại yêu cầu kháng cáo với lý do bản án sơ thẩm không tuyên buộc trách nhiệm đối với bà K nên không ảnh hưởng gì đến quyền lợi của bà. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy việc rút lại yêu cầu kháng cáo của bà K là hoàn toàn tự nguyện, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Võ T (K1) Khuyên.

[2] Xét kháng cáo của ông Phạm Hữu M, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

3

Bị đơn ông M kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm và yêu cầu xem xét lại sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình theo hướng ông không chấp nhận trả số tiền như án sơ thẩm tuyên buộc, do đây là tiền số đề nên ông không đồng ý thanh toán cho ông Đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông M đưa ra lý do kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm vì: Thực tế ông Đ không có vô hụi giùm ông M mà ông Đ dùng thủ đoạn để chiếm đoạt thêm tiền của ông.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy nội dung kháng cáo của bị đơn ông M là không có cơ sở chấp nhận bởi lẽ:

Theo ông Đ trình bày có cho ông M vay số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), khi vay ông M có viết giấy biên nhận ngày 06/12/2021, ông M tự cam kết sẽ đóng lãi cho ông Đ mỗi tháng là 0,4%.

Theo B hòa giải ngày 11/11/2023 của Ban N1 (BL3,4) cũng như tại phiên tòa hôm nay ông M thừa nhận vào ngày 06/12/2021 ông M có mượn của ông Đ số tiền 50.000.000 đồng. Sau đó ông M có nhờ ông Đ vào một chân hụi, loại hụi 2.000.000 đồng/tháng, có 34 người chơi (trừ ra người chơi còn 33). Ngày 05/9/2022 (âl) nhờ ông Đ hốt được số tiền 43.000.000 đồng, có trả cho ông Đ 40.000.000 đồng còn lại 10.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi ông M đóng hụi chết lại cho ông Đ mỗi kỳ là 2.000.000 đồng, đóng 33 kỳ. Ông M đã đóng cho ông Đ được 09 kỳ, khi đóng hụi ông Đ không có làm biên nhận cho ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của ông M và ông M trình bày: Thực tế chỉ giao dịch vay nợ số tiền 50.000.000 đồng còn giao dịch hụi là do ông M đề xuất chứ trên thực tế là không có. Đồng thời phía ông M xác định chỉ thống nhất trả 32.000.000 đồng vì đã đóng lãi cho ông M 9 kì với số tiền 18.000.000 đồng, mặc khác ông M cho rằng có đóng lãi trên số tiền 50.000.000 đồng mỗi tháng 2.000.000 đồng x 9 tháng là 18.000.000 đồng nhưng không yêu cầu tính lãi để đối trừ vì đây là nghĩa vụ của ông M.

Thấy rằng ông M thừa nhận chữ ký, chữ viết tại các giấy tờ biên nhận và tờ hùn vốn là của ông M nhưng ông M cho rằng do bị sức ép phía ông Đ. Tuy nhiên ông M không cung cấp được tài liệu chứng cứ việc ký biên nhận là không tự nguyện. Mặc khác các bên đều thống nhất số vốn vay là 50.000.000 đồng lãi suất đóng trên thực tế 4%/tháng nếu như không có thỏa thuận hốt hụi giùm trừ nợ vay 40.000.000 đồng thì điều chỉnh lãi lại theo quy định 1,66%/tháng trên số tiền vốn vay 50.000.000 đồng tính từ thời điểm vay ngày 06/12/2021 đến nay thì số lãi cũng đã tương đương 78.000.000 đồng, nhưng phía nguyên đơn ông Đ chỉ yêu cầu ông M trả tổng cộng là 76.000.000 đồng là đã có lợi cho ông M.

Như vậy phía ông M thừa nhận có vay của ông Đ số tiền 50.000.000 đồng, ông M có cam kết đóng lãi hàng tháng nhưng không thực hiện. Ông Đ khẳng định ông không có bán số đề cho ông M và ông M không có đóng lãi hay hụi chết lại cho ông.

Do đó, án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ buộc ông M trả cho ông Đ số tiền 76.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

4

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm ông M không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào mới ngoài các tài liệu chứng cứ đã được xem xét ở cấp sơ thẩm nên không có căn cứ xem xét để chấp nhận kháng cáo của ông M.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Võ T (K) Khuyên, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn là ông Phạm Hữu M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 89/2024/DS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[7] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Phạm Hữu M phải chịu theo quy định. Ông Võ Minh Đ không phải chịu, đã dự nộp được nhận lại.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông M, bà K phải chịu theo quy định, đã dự nộp được chuyển thu.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 289, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn là bà Võ T (K) Khuyên.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn là ông Phạm Hữu M.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 89/2024/DS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Minh Đ về việc yêu cầu ông Phạm Hữu M thanh toán nợ vay. Buộc ông Phạm Hữu M có nghĩa vụ thanh toán cho ông Võ Minh Đ số tiền còn nợ là 76.000.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu đồng). Ông Đ không yêu cầu tính lãi và không yêu cầu bà Võ T (K1) Khuyên thanh toán nợ cho ông nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Kể từ ngày ông Đ có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông M chậm trả số tiền nói trên cho ông Đ thì phải chịu lãi suất chậm trả trên số tiền vốn, mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  3. Về án phí:

5

  • - Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
  • Ông Phạm Hữu M phải chịu số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng).

    Ông Võ Minh Đ không phải chịu án phí. Ngày 26/4/2024 ông Võ Minh Đ nộp tạm ứng án phí số tiền 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0016164 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại.

  • - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Hữu M và bà Võ T (K1) Khuyên phải chịu 300.000 đồng. Ngày 25/7/2024 ông M và bà K đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0016362 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu đối trừ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Châu Minh Hoàng

6

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Hùng Quang – Nguyễn Thành Lập

Châu Minh Hoàng

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Minh Hoàng

7

Dương Hùng Quang – Nguyễn Thành Lập

Châu Minh Hoàng

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Minh Hoàng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Hùng Quang – Hồ Minh Tấn

Châu Minh Hoàng

8

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 404/2024/DS-PT ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 404/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger