Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 404/2025/DS-ST

Ngày: 06 tháng 6 năm 2025

V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến Ngọc;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Xuân Hồng;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên;

- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Việt Anh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lường Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1231/2024/TLST–DS ngày 23 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 565/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 686/2025/QÐST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Văn D, sinh năm: 1989

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

1/ Bà Đỗ Thanh T, sinh năm: 1988

Nơi thường trú: 12 L, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu;

Địa chỉ liên lạc: 22 L, Khu phố C, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1991

Nơi thường trú: Xóm H, N, K, Hà Nam;

Địa chỉ liên lạc: 22 L, Khu phố C, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền số chứng nhận: 0412, quyển số: 01.2025TP/CC-

SCC/HDGD ngày 24/02/2025 tại Văn phòng C)

(có mặt)

Bị đơn: Công ty cổ phần Tập đoàn Đại Nam Group

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Hồ Hoàng N1, sinh năm: 1989, chức danh: Tổng giám đốc

Địa chỉ trụ sở: 31/4/1 Đường T, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các biên bản hòa giải; người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 10/7/2023, ông Phạm Văn D và Công ty cổ phần T2 (viết tắt là Công ty Đ) ký Hợp đồng dịch vụ số 001/HDDV/PHAMVANDIEN với nội dung: Ông D giao hồ sơ cho Công ty Đ xử lý gồm (căn cước công dân, sổ hộ khẩu, hộ chiếu, ảnh, số điện thoại) để Công ty Đ tiến hành giúp ông D đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc với việc làm tại công xưởng; khi nộp hồ sơ, ông D đặt cọc số tiền 35.880.000 đồng (tương đương 1500 USD) cho Công ty Đ; thời hạn 04 tháng (từ ngày 10/7/2023 đến ngày 10/11/2023) ông D sẽ có visa và lịch bay qua Hàn Quốc làm việc. Sau đó, ông D đã thanh toán đủ số tiền trên cho Công ty Đ, cụ thể như sau:

  • - Ngày 10/7/2023, ông D đặt cọc 30.000.000 đồng (Phiếu thu ngày 10/7/2023 của Công ty Đ).
  • - Ngày 17/7/2023, ông D đặt cọc tiếp 5.880.000 đồng (Phiếu thu ngày 17/7/2023 của Công ty Đ).

Đến hạn, Công ty Đ không thể hoàn thành công việc theo thỏa thuận nên ngày 15/4/2024, ông D và Công ty Đ đã ký Biên bản thanh lý Hợp đồng dịch vụ số 001/BBTLHDDV/PHAMVANDIEN với nội dung: Hai bên đồng ý ghi nhận sự hợp tác tích cực của bên A (ông D) và bên B (Công ty Đ) trong việc thực hiện hợp đồng, hai bên nhất trí thanh lý hợp đồng nêu trên. Sau khi hoàn tất toàn bộ thủ tục thanh lý, bên B có trách nhiệm hoàn trả lại toàn bộ số tiền bên A đã đặt cọc là 35.880.000 đồng và bàn giao lại cho bên A bao gồm căn cước công dân, sổ hộ khẩu hộ chiếu (nếu có). Thời gian rút hồ sơ và hoàn trả toàn bộ số tiền đặt cọc cho bên A sẽ được bên B xử lý trong vòng 30 ngày làm việc (không tính thứ 7, chủ nhật, lễ tết) kể từ ngày hai bên ký biên bản thanh lý (tức là từ ngày 15/4/2024 đến ngày 29/5/2024).

Thực hiện biên bản thanh lý, Công ty Đ đã trả lại toàn bộ giấy tờ cho ông D, nhưng đến ngày 28/6/2024 Công ty Đ mới trả cho ông D 10.000.000 đồng, số tiền còn lại là 25.880.000 đồng thì đến nay Công ty Đ vẫn chưa trả.

Vì vậy, nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc Công ty Đ phải trả cho ông D số tiền là 28.517.633 (Hai mươi tám triệu năm trăm mười bảy ngàn sáu trăm ba mươi ba) đồng; cụ thể:

  • - Số tiền đặt cọc còn lại: 25.880.000 đồng.
  • - Tiền lãi với lãi suất 10%/năm từ ngày 30/5/2024 đến ngày xét xử là 372 ngày: 25.880.000 đồng x 0,83% x 372 ngày = 2.637.633 đồng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.

Tại phiên tòa ngày 16/5/2025 bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt; giữ nguyên ý kiến, yêu cầu trình bày trong quá trình tố tụng.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chấp hành theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn tranh chấp với bị đơn về việc thanh toán tiền dịch vụ theo hợp đồng đã ký. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là tranh chấp về hợp đồng dịch vụ.

Bị đơn có trụ sở chính tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và chưa đăng ký giải thể. Theo kết quả xác minh: “Công ty cổ phần T3 không có hoạt động tại địa chỉ 31/4/1 đường T, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh” và “Ông Hồ Hoàng N1 – người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ – có đăng ký hộ khẩu thường trú tại A chung cư E, Khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện không thực tế cư trú tại địa phương, đã chuyển đi từ năm 2021, đi đâu không rõ”. Nguyên đơn không biết địa chỉ mới của bị đơn. Như vậy, bị đơn thay đổi địa chỉ mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Do đó, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Căn cứ vào Điều 26, 35, 36, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ Hợp đồng dịch vụ số 001/HDDV/PHAMVANDIEN ngày 10/7/2023, Biên bản thanh lý Hợp đồng dịch vụ số 001/BBTLHDDV/PHAMVANDIEN ngày 15/4/2024; thể hiện nguyên đơn đã đặt cọc cho bị đơn số tiền là 35.880.000 đồng nhưng bị đơn không thực hiện được dịch vụ đã thỏa thuận, bị đơn đã trả lại cho nguyên đơn 10.000.000 đồng và còn thiếu 25.880.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền còn lại là 25.880.000 đồng.

Căn cứ Biên bản thanh lý ngày 15/4/2024, bị đơn cam kết trong vòng 30 ngày làm việc (không tính thứ 7, chủ nhật, lễ tết) kể từ ngày hai bên ký biên bản thanh lý (tức là từ ngày 15/4/2024 đến ngày 29/5/2024) sẽ trả lại nguyên đơn toàn bộ tiền đặt cọc. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền lãi đối với số với tiền cọc còn nợ tính từ ngày 30/5/2024 đến ngày 06/6/2025 là 25.880.000 đồng x 0,83% x 372 ngày = 2.637.633 đồng.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng dịch vụ ngày 10/7/2023 giữa các bên là 28.517.633 đồng, trong đó: nợ gốc là 25.880.000 đồng, nợ lãi là 2.637.633 đồng. Trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[3] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể: bị đơn phải chịu án phí là 1.425.882 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn D:

Buộc bị đơn Công ty cổ phần T2 phải thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cho ông Phạm Văn D số tiền còn nợ là: 28.517.633 (Hai mươi tám triệu năm trăm mười bảy ngàn sáu trăm ba mươi ba) đồng, trong đó: Nợ gốc là 25.880.000 (Hai mươi lăm triệu trám trăm tám mươi ngàn) đồng và lãi là 2.637.633 (Hai triệu sáu trăm ba mươi bảy ngàn sáu trăm ba mươi ba) đồng.

Việc thi hành án do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

Công ty cổ phần T2 phải chịu 1.425.882 (Một triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn tám trăm tám mươi hai) đồng án phí sơ thẩm đối với vụ án tranh chấp về dân sự có giá ngạch, nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn trả lại cho ông Phạm Văn D tiền tạm ứng án phí 679.225 (Sáu trăm bảy mươi chín ngàn hai trăm hai mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0049768 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 12;
  • - Chi cục THADS Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Yến Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 404/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 404/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger