Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 404/2024/HS-ST

Ngày: 11 – 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải An.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Vĩnh Mai.
  2. Ông Nguyễn Lập Tiến.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Ánh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Bình – C/v Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 380/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 381/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thị Minh T; Giới tính: Nữ. Sinh ngày 30 tháng 8 năm 1995; Tại: Tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nơi cư trú: Số C đường C, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Họ và tên cha: Lê Minh T1, sinh năm 1967; Họ và tên mẹ: Trần Thị T2, sinh năm 1971. Họ và tên chồng: Thiều Đức D, sinh năm 1994 (Đã ly hôn), bị cáo có 01 con, sinh năm: 2017. Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 26/10/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

Ông Nguyễn Quang T3 – Sinh năm: 1980 (Có mặt).

Địa chỉ: Số nhà I, Tổ dân phố G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Thiều Đức D – Sinh năm: 1994 (Vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Tổ B C, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng;

  3. Bà Hoàng Thúy T4 – Sinh năm: 1989 (Vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Thôn 3, xã Mê Linh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng

  5. Ông Nguyễn Thanh N - Sinh năm 1980 (Có mặt).
  6. Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

  7. Ông Nguyễn Hoài V – sinh năm: 1993 (Vắng mặt).
  8. Địa chỉ: Số A thôn B, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị Minh T không có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, nên T đã nảy sinh ý định đưa ra thông gian dối là bản thân có sở hữu bất động sản để vay mượn tiền của người khác nhằm chiếm đoạt.

Vào tháng 01 năm 2023 Lê Thị Minh T hỏi anh Nguyễn Thanh N (là bạn của T) có chỗ nào quen biết thì hỏi vay dùm số tiền 300.000.000 đồng. Sau đó anh N hỏi anh Nguyễn Quang T3 (là anh ruột của N, sinh năm 1980, trú tại: Tổ dân phố G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) để mượn tiền giúp cho T. Ngày 04/02/2023 T dùng điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Pro Max, màu đen lên mạng xã hội tìm được một người dùng tài khoản Facebook tên “Trần Đăng N1”, sử dụng số điện thoại 0852.516.xxx, T nhờ làm giả 01 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và 02 giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giả. T lấy thông tin từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ để nhờ làm giả một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thông tin thể hiện “Người sử dụng đất: Bà Lê Thị Minh T, sinh năm: 1995, CMND số: [...], địa chỉ thường trú: Số A C, tổ A, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, đối với thửa đất số 06, tờ bản đồ số 06, địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, số bìa DE 684952, số vào sổ cấp GCN: CS 02022, được Giám đốc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ Võ Hồng N2 ký vào ngày 16/8/2022”. Sau đó T sử dụng số tài khoản 0853538882, mang tên “LE THỊ MINH TRAM”, mở tại ngân hàng M chi nhánh Đ, tỉnh Lâm Đồng chuyển số tiền 5.000.000 đồng đến số tài khoản 000007212076, mang tên TRAN HOANG HUNG, mở tại ngân hàng TMCP Đ1 (S) do người dùng tài khoản Facebook tên “Trần Đăng N1” cung cấp. Sau đó, T đến nhà xe P, địa chỉ: A L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để lấy 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gỉa và 02 giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giả.

Đến ngày 08/3/2023 T đi cùng anh N đến nhà anh T3, T viết giấy vay tiền với số tiền là 300.000.000 đồng, thời hạn vay tiền 02 tháng kể từ ngày 08/3/2023, tài sản thế chấp là 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, thửa đất số 06, tờ bản đồ số 06, địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, số bìa DE 684952 và 02 giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân. Do tin tưởng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE684952 là thật, nên anh T3 đồng ý cho T vay số tiền 300.000.000 đồng. Sau khi trừ số tiền 4.000.000 đồng là chi phí các khoản hồ sơ vay tiền còn lại 296.000.000 đồng. T nói anh Trung chuyển số tiền 296.000.000 đồng vào tài khoản của anh N số 24264477 mở tại ngân hàng A, T nói nếu chuyển vào tài khoản của T thì sẽ bị ngân hàng trừ hết vì tài khoản của T đang bị nợ tiền lãi ngân hàng. Sau khi chiếm đoạt số tiền 296.000.000 đồng của anh T3, T đã sử dụng vào việc trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 29/9/2023 anh T3 làm đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để xử lý.

Sau đó, do còn nợ tiền của nhiều người, Lê Thị Minh T đã nhờ chị Hoàng Thị T5 (là bạn làm ăn chung với T, sinh năm 1989, trú tại Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng) vay giúp cho T số tiền 200.000.000 đồng. Trầm tiếp tục đặt làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chị T5 tin tưởng cho vay tiền. Sau đó, T lấy thông tin của một lô đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 486672, thửa đất số 979; tờ bản đồ số 29; địa chỉ: Xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; diện tích 384,2 m2 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 27/7/2022, đang được rao bán rồi Trầm lưu thông tin và các hình ảnh để làm giả. Sau đó, T gửi các thông tin của lô đất này cùng hình ảnh chứng minh nhân dân của Trầm và của anh Thiều Đức D (là chồng của T, năm sinh: 1994, trú tại: Tổ H, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) cho người dùng tài khoản Zalo tên “Trần Đăng N1”, sử dụng số điện thoại 0976.447.xxx (cũng là người được T nhờ làm tài liệu giả trước đó tại thành phố B) để nhờ làm giả một Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất với số tiền 12.000.000 đồng. Sau khi trả tiền, T nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CL 486672, thửa đất số 979; tờ bản đồ số 29; địa chỉ: Xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đến ngày 29/4/2023, Lê Thị Minh T đi xe khách đến thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng gặp chị T5, rồi đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia này cho chị T5 nhờ hỏi vay giúp số tiền 200.000.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ ngày 05/5/2023, T và chị T5 đến Văn phòng C, địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để kí hợp đồng ủy quyền đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CL 486672 thì nhân viên Văn phòng Công chứng phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 486672 có dấu hiệu làm giả nên đã trình báo sự việc đến Công an thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng nhưng không cho T và chị T5 biết. Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, khi chị T5 và T đang ký tên vào hợp đồng ủy quyền thì Công an thị trấn Đinh Văn phát hiện xử lý.

Tại Bản kết luận số 1321/KL-KTHS, ngày 26/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE 684952 mang tên Lê Thị Minh T, là giả.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng, xác định: Nguồn gốc thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 486672, thửa đất số 979; tờ bản đồ số 29; địa chỉ: Xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; diện tích 384,2 m2, thu giữ của T. Hiện nay do bà Chu Minh T6 (sinh năm: 2000, trú tại: Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng) đứng tên chủ sở hữu hợp pháp; Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 486672 đã được cấp cho thửa đất số 1268, tờ bản đồ số 34; địa chỉ: Xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, hiện nay do bà Nông Thị Kim Á (sinh năm: 1984, trú tại: Thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) đứng tên chủ sở hữu.

Tại Bản kết luận giám định số 587/KL- KTHS, ngày 03/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận:

  • + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 486672 mang tên Thiều Đức D và Lê Thị Minh T7 là giả;
  • + Hình dấu tròn có nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG * CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM * TỈNH LÂM ĐỒNG” trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 486672 cần giám định so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh không phải do cùng một con dấu đóng ra;
  • + Chữ ký mang họ tên Nguyễn Văn T8 trên tài liệu cần giám định so với chữ ký mang họ tên Nguyễn Văn T8 trên tài liệu mẫu so sánh không phải do một người ký ra;
  • + Không phát hiện dấu hiệu tẩy, xóa, cắt, cạo, sửa chữa, dán lại, in lại, viết lại, vẽ lại trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 486672 cần giám định;
  • + Chữ ký, chữ viết ghi họ tên Lê Thị Minh T trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết ghi họ tên Lê Thị Minh T trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký và viết ra

Tại Bản kết luận giám định số: 1386/KL-KTHS ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận đối với: Chữ ký, chữ viết mang tên Lê Thị Minh T trên tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết mang tên Lê Thị Minh T trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký và viết ra.

Tại Bản kết luận số 76/KL-KTHS, ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:

  • + Không tiến hành giám định so sánh chữ ký mang tên Chu Thị Tường V1 dưới mục “PHÓ CHỦ TỊCH” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký mang tên Chu Thị Tường V2 trên tài liệu mẫu so sánh do có dạng khác nhau;
  • + Hình dấu tròn có nội dung “★ U.B.N.D THỊ TRẤN LIÊN NGHĨA H.ĐỨC TRỌNG T.LÂM ĐỒNG” dưới mục “PHÓ CHỦ TỊCH” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1, A2 so với hình dấu trong có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1, M2 là không cùng một phương pháp tạo ra.

Tại bản cáo trạng số: 219/CT-VKS-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Lê Thị Minh T về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b,c khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[2] Tại phiên tòa:

[2.1] Bị cáo Lê Thị Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan Cảnh sát điều tra và nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.

[2.2] Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”: Áp dụng điểm b,c khoản 3 Điều 341, điểm g khoản 1 Điều 52 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Minh T mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
  • - Về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174 và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Minh T mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 11 năm 06 tháng đến 12 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Pro Max, màu đen, số IMEI: 356716111717287, dung lượng 128Gb của Lê Thị Minh T.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo Lê Thị Minh T và anh Nguyễn Quang T3 về việc: Bị cáo Lê Thị Minh T bồi thường cho anh Nguyễn Quang T3 số tiền là 296.000.000 đồng và tiền lãi ngân hàng phát sinh là 40.000.000 đồng.

Bị cáo không bào chữa và tham gia tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Thị Minh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Ngày 08/3/2023 tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Lê Thị Minh T đã đưa ra thông tin gian dối bằng cách đặt làm sau đó sử dụng 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả của thửa đất số 06, tờ bản đồ số 06, địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để lừa đảo anh Ngô Quốc T9 chiếm đoạt số tiền 296.000.000 đồng. Đến tháng 5/2023, tại địa bàn huyện L, tỉnh Lâm Đồng, Lê Thị Minh T đã sử dụng 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả của thửa đất số 979; tờ bản đồ số 29; địa chỉ: Xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đưa cho chị Hoàng Thúy T4 để nhờ cho T vay số tiền 200.000.000 đồng nhưng chưa thực hiện được thì bị phát hiện xử lý. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Lê Thị Minh T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b, c khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong vụ án này, bị cáo Lê Thị Minh T sử dụng tài liệu giả để nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị hại và không thu lợi bất chính bất cứ số tiền nào từ việc làm giả, sử dụng các tài liệu giả này. Do vậy, hành vi của bị cáo Lê Thị Minh T chỉ phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng"

Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

[3] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, sự hoạt động đúng đắn, bình thường của cơ quan, tổ chức Nhà nước; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại và gây nên những ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, nhận thức được các hành vi nêu trên đều bị pháp luật nghiêm cấm. Song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới phát huy được tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhiệm hình sự:

Đối với hành vi “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, bị cáo thực hiện hành vi 02 lần. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản:, tại phiên toà người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Pro Max, màu đen, số IMEI: 356716111717287, dung lượng 128Gb của Lê Thị Minh T là tài sản bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, anh Nguyễn Quang T3 xác định thiệt hại do bị cáo gây ra cho anh gồm số tiền vay gốc là 296.000.000 đồng và số tiền lãi suất anh phải nộp cho Ngân hàng là 40.000.000 đồng. Anh Nguyễn Quang T3 và bị cáo Lê Thị Minh T tự nguyện thoả thuận với nhau về bồi thường thiệt hại cụ thể: Bị cáo Lê Thị Minh T bồi thường cho anh Nguyễn Quang T3 tổng số tiền là 336.000.000 đồng.

[6] Về các nội dung khác:

Đối với Nguyễn Thanh N là người được bị cáo Lê Thị Minh T nhờ hỏi vay tiền giúp. Anh N không biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE 684952 và Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân mà T cho anh T3 xem, cất giữ là giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với người mà bị cáo Lê Thị Minh T khai nhờ người trên mạng xã hội (chưa rõ nhân thân lai lịch) làm giả các tài liệu. Hiện Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên tách ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Đối với Nguyễn Hoài V là người được bị cáo Lê Thị Minh T trả nợ số tiền 94.600.000 đồng. Anh V không biết số tiền này là do T phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với Thiều Đức D là chồng của bị cáo Lê Thị Minh T. Quá trình điều tra xác định, Thiều Đức D không biết việc Lê Thị Minh T sử dụng thông tin cá nhân của anh D để nhờ làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL486672, rồi kí hợp đồng ủy quyền cho chị Hoàng Thúy T4, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với số điện thoại 0976.447.xxx; số tài khoản 000007212076, mang tên TRAN HOANG HUNG, mở tại ngân hàng TMCP Đ1 (S); số tài khoản 9704229208199887599, mang tên “NGUYEN TIEN DUNG”, mở tại ngân hàng M; nhà xe Phương Trang - Bưu cục Bến xe P; nhà xe Thành Bưởi - Văn phòng thành phố Đ, Cơ quan điều tra đã có yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, đồ vật, tài liệu, dữ liệu diện tử nhưng đến nay chưa có kết quả, nên tách ra để làm rõ xử lý sau là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Minh T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  • - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Minh T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.

  • - Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Minh T 08 (Tám) năm tù.

  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 11 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính kể từ ngày bắt, ngày 26/10/2023.

[2] Về các biện pháp tư pháp : Áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự.

  • - Công nhận sự thoả thuận giữa anh Nguyễn Quang T3 và bị cáo Lê Thị Minh T, bị cáo Lê Thị Minh T phải bồi thường cho anh Nguyễn Quang T3 số tiền 336.000.000 (Ba trăm ba mươi sáu triệu) đồng.
  • Kể từ ngày anh Nguyễn Quang T3 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không tự nguyện thi hành đối với khoản tiền trên thì bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Pro Max, màu đen, số IMEI: 356716111717287, dung lượng 128Gb của Lê Thị Minh T.
  • (Vật chứng hiện đang lưu trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột. Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/7/2024 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Thị Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 16.800.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND thành phố B;
  • - Công an thành phố B;
  • - Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • - Chi cục THADS thành phố B;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Bị cáo, các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hải An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 404/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 404/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị MInh T sử dụng con dấu tài liệu giả và lừa đảo chiếm đoạt tài snar
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger