Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 404/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06 – 12–2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân và ông Nguyễn Thế Hùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 294/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1079/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1100/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị C, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ B, ấp Đ, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Đặng Văn Ả, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.

Bà Phạm Thị C vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Đặng Văn Ả vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của bà Phạm Thị C; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị C và ông Đặng Văn Ả tự tìm hiểu, sau đó tiến đến hôn nhân vào năm 2003 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 101, ngày 03/7/2008. Quá trình chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do ông Ả hay ghen tuông, bản thân ông Ả thường xuyên uống rượu, có hành vi bạo lực gia đình. Gia đình nhiều lần khuyên can nhưng ông Ả không thay đổi. Đến ngày 21/9/2024 thì ông Ả tiếp tục đánh đập bà C nên bà C phải về nhà mẹ ruột sống cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm của bà C dành cho ông Ả không còn nên bà C yêu cầu được ly hôn với ông Ả.

Về con chung: Có 02 con chung tên: Đặng Nhựt K, sinh ngày 10/5/2004 và Đặng Nhựt A, sinh ngày 11/11/2009. Hiện Đặng Nhựt K đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng Đặng Nhựt A đang sống với ông Ả và được ông Ả nuôi dạy. Sau khi ly hôn, bà C đồng ý để ông Ả được tiếp tục nuôi dạy con chung, bà C sẽ không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản ghi lời khai ngày 01/11/2024, ông Đặng Văn Ả cho biết: Ông Ả thống nhất với lời trình bày của bà C về nguyên nhân và điều kiện đi đến hôn nhân, về vấn đề con chung, tài sản chung và nợ chung. Ông Ả không đồng ý ly hôn với bà C, trường hợp nếu ly hôn thì ông Ả yêu cầu được nuôi dạy con chung là cháu Đặng Nhựt A, sinh ngày 11/11/2009.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 01/11/2024. Ông Ả và bà C xác nhận đã cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Bà C vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Ả, ông Ả không đồng ý theo yêu cầu của bà C nên hòa giải không thành.

Về tài liệu, chứng cứ:

Các tài liệu, chứng cứ do bà Phạm Thị C giao nộp: Giấy trích lục kết hôn số 689 ngày 02/10/2024 của UBND xã K (bản sao); Căn cước công dân mang tên Phạm Thị C (bản photo); Bản tự khai của bà Phạm Thị C (bản chính); Giấy khai sinh Đặng Nhựt K (Bản sao); Giấy khai sinh Đặng Nhựt A (Bản sao).

Các tài liệu, chứng cứ do ông Đặng Văn Ả giao nộp: Không có.

Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản lấy lời khai người làm chứng.

Tại phiên tòa, do bà C và ông Ả đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Theo biên bản ghi nhận ý kiến con chung ngày 01/11/2024, cháu Đặng Nhựt A cho biết: Cha cháu tên Đặng Văn Ả và mẹ cháu tên Phạm Thị C. Cháu hiện đang sống cùng cha, mẹ thì sống ở nhà ngoại hơn một tháng nay. Cha mẹ sống từ trước đến nay không hạnh phúc. Nguyên nhân là cha hay ăn nhậu rồi đánh mẹ, bản thân cha lại không có nghề nghiệp, mẹ không chịu nổi nên không muốn sống với cha. Nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau thì cháu mong muốn được tiếp tục chung sống với cha.

Theo biên bản ghi lời khai người làm chứng ngày 01/11/2024, ông Phạm Văn T cho biết: Quá trình chung sống bà C và ông Ả chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do ông H thường xuyên uống rượu, đánh đập bà C. Ông T đã nhiều lần chở bà C về nhà, nhiều lần chứng kiến thương tích của bà C do ông Ải Đ. Ngoài ra, hiện nay ông Ả không có nghề nghiệp, mọi sinh hoạt, chi tiêu, chăm sóc con cái đều do bà C lo lắng. Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đặng Nhựt K, sinh ngày 10/5/2004 và cháu Đặng Nhựt A, sinh ngày 11/11/2009. Về tài sản chung, nợ chung: Không rõ.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị C; về con chung, đề nghị giao con chung tên Đặng Nhựt A, sinh ngày 11/11/2009 cho ông Đặng Văn Ả được nuôi dưỡng và bà C không phải cấp dưỡng nuôi con; bà C và ông Ả khai không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Bà C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn ông Đặng Văn Ả vắng mặt không rõ lý do; đồng thời ông Ả đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Bà Phạm Thị C có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết:

Ông Đặng Văn Ả có nơi thường trú tại: Ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Quá trình chung sống, bà Phạm Thị C và ông Đặng Văn Ả phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Ả có hành vi bạo lực gia đình đối với bà C, thiếu chăm lo cho gia đình. Gia đình đã nhiều lần hòa giải, động viên nhưng bà C và ông Ả không thể hàn gắn. Ông Ả cho rằng vẫn còn tình cảm với bà C nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, ông Ả lại không đưa ra được giải pháp để vợ chồng có thể hàn gắn tình cảm, cũng như không đưa ra được lời cam kết sẽ thay đổi bản thân để thuyết phục được bà Chi Đ1 tụ vợ chồng. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn gia đình giữa bà C và ông Ả đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà C theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Phạm Thị C và ông Đặng Văn Ả có 02 con chung tên: Đặng Nhựt K, sinh ngày 10/5/2004 và Đặng Nhựt A, sinh ngày 11/11/2009. Hiện cháu K đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu A đang sống với ông Ả và được ông Ả nuôi dạy.

Sau khi xem xét yêu cầu của ông Ả và bà C, xem xét nguyện vọng của cháu A. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận để ông Ả được tiếp tục nuôi dạy con chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho bà C và ông Ả về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng bà C vẫn giữ nguyên ý kiến của mình về việc không cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của bà C và ông Ả về việc không yêu cầu bà C cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Bà Phạm Thị C cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Đặng Văn Ả. Ngược lại, ông Ả cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị C và ông Đặng Văn Ả không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Bà Phạm Thị C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông Đặng Văn Ả không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị C và ông Đặng Văn Ả có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; các điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị C.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị C được ly hôn với ông Đặng Văn Ả.

  2. Về con chung: Ông Đặng Văn Ả được trực tiếp nuôi dạy con chung tên: Đặng Nhựt A, sinh ngày 11/11/2009. Bà Phạm Thị C không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

    Bà Phạm Thị C cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Đặng Văn Ả. Ngược lại, ông Ả cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà C đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010055 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.

    Ông Đặng Văn Ả không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt bà Phạm Thị C và ông Đặng Văn Ả. Bà C và ông Ả có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

  5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện An Phú;
  • - THADS huyện An Phú;
  • - UBND xã Khánh An, huyện An Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 404/2024/HNGĐ-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 404/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị C và ông Đặng Văn Ả tự tìm hiểu, sau đó tiến đến hôn nhân vào năm 2003 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 101, ngày 03/7/2008. Quá trình chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do ông Ả hay ghen tuông, bản thân ông Ả thường xuyên uống rượu, có hành vi bạo lực gia đình. Gia đình nhiều lần khuyên can nhưng ông Ả không thay đổi. Đến ngày 21/9/2024 thì ông Ả tiếp tục đánh đập bà C nên bà C phải về nhà mẹ ruột sống cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm của bà C dành cho ông Ả không còn nên bà C yêu cầu được ly hôn với ông Ả. Về con chung: Có 02 con chung tên: Đặng Nhựt K, sinh ngày 10/5/2004 và Đặng Nhựt A, sinh ngày 11/11/2009. Hiện Đặng Nhựt K đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng Đặng Nhựt A đang sống với ông Ả và được ông Ả nuôi dạy. Sau khi ly hôn, bà C đồng ý để ông Ả được tiếp tục nuôi dạy con chung, bà C sẽ không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger