|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 404/2024/HS-ST Ngày: 06-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thành Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Phạm Thị Nguyệt Thu
Bà: Nguyễn Thị Bích Thủy
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Lê Văn Thanh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 405/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 407/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác: Tí B), sinh năm: 1993 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú và nơi đang cư trú: 14/6, tổ C, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1969 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tân S, sinh năm: 1967; Chưa có vợ, con; Tiền án: ngày 25/01/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 57/2016/HSST); Tiền sự: không; Nhân thân:
- Ngày 21/11/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 544/2019/HSST).
- Ngày 12/4/2010 bị Chủ tịch UBND thành phố B, tỉnh Đồng Nai quyết định đưa vào Trường G với thời hạn chấp hành là 24 tháng (Quyết định số: 582/QĐ-UB-NC).
Bị bắt tạm giam từ ngày 12 tháng 3 năm 2024, hiện đang được tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an thành phố B.
2. Đậu Ngọc A (tên gọi khác: Đậu A), sinh năm: 1994 tại Hà Tĩnh; Nơi đăng ký thường trú và nơi đang cư trú: A39, tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đậu Đình P, sinh năm: 1960 và bà Đoàn Thị L, sinh năm: 1972; Đang sống chung như vợ chồng (không có đăng ký kết hôn) với Trần Thị Thúy A1, sinh năm: 2004; Chưa có con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 07/7/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số: 355/2015/HSST); Bị bắt tạm giam từ ngày 12 tháng 3 năm 2024, hiện đang được tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an thành phố B.
- Bị hại:
- Chị Bùi Thị L1, sinh năm: 1988; Địa chỉ: tổ F, khu phố Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Hồ Viết S1, sinh năm: 1985; Địa chỉ: khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Ngô Văn D, sinh năm: 1999; Địa chỉ: tổ H, ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Lê Minh T1, sinh năm: 1985; Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1983; Địa chỉ: D, tổ C, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Vũ Thị T2, sinh năm: 1966; Địa chỉ: tổ G, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Hoàng Chu H, sinh năm: 1968; Địa chỉ: 1, tổ G, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Các bị cáo có mặt, riêng Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Đ và Đậu Ngọc A quen biết với nhau, đều là người sử dụng trái phép chất ma túy và không có nghề nghiệp ổn định.
Vào ngày 02/03/2024, Đ đến thuê phòng tại nhà nghỉ B tại số: 56, tổ G, khu phố C, phường A, thành phố B do bà Vũ Thị T2 làm chủ. Do thiếu tiền tiêu xài và trả tiền thuê phòng nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.
Thực hiện ý định trên, vào khoảng 04 giờ 07 phút ngày 04/03/2024, Đ điều khiển xe môtô Yamaha Sirius biển số: 73C1 - 078.98 đi đến Văn phòng Công ty TNHH Đ1 (sau đây gọi tắt là Công ty Đ1) tại số: 12A, Quốc lộ E, khu phố H, phường P, thành phố B. Đến nơi, Đ phát hiện thấy chìa khóa cửa cuốn của Văn phòng Công ty Đ1 được để bên hông cửa nên lấy, bấm mở cửa cuốn, đi vào bên trong và chiếm đoạt: 01 máy tính xách tay Acer Asprire 3 của chị Bùi Thị L1; 01 xe môtô Yamaha Acruzo biển số: 37L1 - 460.69 và 01 máy tính xách tay Dell Vostro của anh Hồ Viết S1; 01 máy tính xách tay Asus K555L của anh Ngô Văn D và 01 máy tính xách tay Dell Inspiron 5520 của anh Lê Minh T1 (đều là những nhân viên của Công ty Đ1).
Sau đó, Đ bỏ tất cả các tài sản nêu trên vào cốp xe môtô Yamaha Acruzo biển số: 37L1 - 460.69 và điều khiển xe môtô biển số: 37L1 - 460.69 chạy đến phòng trọ của ông Nguyễn Công H1 tại: C, tổ B, khu phố A, phường T, thành phố B. Khi gặp ông H1, Đ nói ông H1 đi cùng, sau đó chạy xe mô tô về giúp Đ rồi ngày mai Đ sẽ trả công số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Ông H1 không biết việc Đ trộm cắp tài sản nên đồng ý. Đ điều khiển xe môtô biển số: 37L1 - 460.69 chở ông H1 đi đến đoạn đường Quốc lộ 51 (nơi gần Văn phòng Công ty T5) thì Đ dừng xe, bảo ông H1 chạy xe môtô biển số: 37L1 - 460.69 về nhà nghỉ Bình Thúy V đợi Đ. Sau đó, Đ đi bộ đến khu vực để xe môtô biển số: 73C1 - 078.98 rồi lấy xe chạy về nhà nghỉ B. Đến khoảng 06 giờ ngày 04/3/2024, ông H1 điều khiển xe môtô biển số 37L1 - 460.69 về nhà nghỉ B giao cho Đ, rồi được Đ chở về lại phòng trọ.
Khoảng 20 giờ ngày 04/3/2024, Đ đem chiếc máy tính Dell Vostro đến tiệm cầm đồ Nguyễn Văn Q tại số: 489, tổ C, khu phố E, phường L, thành phố B (do anh Nguyễn Văn Q làm chủ) để bán cho anh Q với giá 1.200.000đ (một triệu, hai trăm nghìn đồng).
Đến khoảng 08 giờ ngày 05/03/2024, Đ cầm cố cho bà Vũ Thị T2 chiếc máy tính xách tay Acer Asprire 3 với giá 2.500.000đ (hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Sau khi trừ tiền thuê phòng 1.000.000đ (một triệu đồng) thì bà T2 đưa lại cho Đăng 1.500.000đ (một triệu, năm trăm nghìn đồng).
Sau đó, Đ tiếp tục đem bán chiếc máy tính xách tay Asus K555L và chiếc máy tính xách tay Dell Inspiron 5520 cho ông Hoàng Chu H được 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
Đến khoảng 19 giờ ngày 05/3/2024, Đậu Ngọc A và Lê Hữu T3 (là bạn của Anh) đi đến nhà Đ tại địa chỉ số: 14/6, tổ C, khu phố D, phường B, thành phố B để gặp Đ. Khi gặp A, Đ đã nhờ A tìm nơi bán chiếc xe môtô biển số: 37L1 - 460.69 và nói xe môtô này không có giấy chứng nhận đăng ký xe nên nếu bán được với giá 2.000.000đ (hai triệu đồng) thì sẽ trả công cho Anh 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Mặc dù nhận biết được chiếc xe nêu trên là do Đ phạm tội mà có nhưng Anh vẫn đồng ý bán xe giúp Đ để kiếm lời. Thực hiện ý định trên, Anh liên lạc qua Zalo với một người tên Tạ Duy L2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để chào bán xe với giá 2.500.000đ (hai triệu, năm trăm nghìn đồng) và L2 đồng ý mua.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Anh nhờ T3 chạy xe môtô của T3 chở A, còn Đ điều khiển xe môtô biển số: 37L1 - 460.69 cùng đi đến khu vực cầu vượt H, thuộc phường H, thành phố B để gặp L2 giao xe và nhận số tiền 2.500.000đ (hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Sau đó, Anh đưa lại cho Đăng 1.800.000đ (một triệu, tám trăm nghìn đồng) và cho T3 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), số tiền còn lại Anh giữ tiêu xài cá nhân.
Sau khi phát hiện việc bị mất tài sản, ngày 04/3/2024, chị Bùi Thị L1 (đại diện cho các Bị hại) đã đến Công an phường P, thành phố B trình báo sự việc. Công an phường P tiếp nhận tin báo và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, Đậu Ngọc A khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên; riêng Nguyễn Văn Đ không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản, Đ khai mua các tài sản nêu trên của một người tên T4 (không rõ nhân thân, lai lịch).
Vật chứng trong vụ án:
- 01 máy tính xách tay Dell Vostro, 01 máy tính xách tay Acer Asprire 3, 01 máy tính xách tay Asus K555L và 01 máy tính xách tay Dell Inspiron 5520 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu hồi và giao trả anh Hồ Viết S1, chị Bùi Thị L1, anh Ngô Văn D và anh Lê Minh T1.
- 01 xe môtô Yamaha Acruzo, biển số: 37L1 - 460.69 của anh Hồ Viết S1 hiện vẫn chưa thu hồi được.
- 01 xe môtô Yamaha Sirius, biển số: 73C1 - 078.98 là tài sản hợp pháp của anh Lê Hoàng Anh D1. Khi cho Nguyễn Văn Đ mượn xe, anh D1 không biết Đ sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả xe lại cho anh D1.
- 01 điện thoại di động hiệu Poco C40 màu xanh của Đậu Ngọc A sử dụng vào việc phạm tội.
- Số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) của Lê Hữu T3 tự nguyện giao nộp.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 72/KL-HĐĐGTS ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã xác định: 01 xe môtô biển số: 37L1 - 460.69 trị giá 13.996.000đ (mười ba triệu, chín trăm chín mươi sáu nghìn đồng), 01 máy tính xách tay Dell Inspiron 5520 core i5-3210M trị giá 1.875.000đ (một triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), 01 máy tính xách tay Dell Vostro core i5-1135G7 trị giá 10.499.300đ (mười triệu, bốn trăm chín mươi chín nghìn, ba trăm đồng), 01 máy tính xách tay Acer Asprire 3 N20C5 core i5 trị giá 10.880.300đ (mười triệu, tám trăm tám mươi nghìn, ba trăm đồng) và 01 máy tính xách tay Asus K555L core i5-5200U trị giá 2.550.000đ (hai triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng tài sản trị giá 39.800.300đ (ba mươi chín triệu, tám trăm nghìn, ba trăm đồng).
Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Nguyễn Văn Q yêu cầu Nguyễn Văn Đ hoàn trả số tiền 1.200.000đ (một triệu, hai trăm nghìn đồng).
- Ông Hoàng Chu H yêu cầu Nguyễn Văn Đ hoàn trả số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
- Chị Bùi Thị L1, anh Ngô Văn D và anh Lê Minh T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.
- Anh Hồ Viết S1 yêu cầu Nguyễn Văn Đ bồi thường giá trị xe môtô Yamaha Acruzo, biển số: 37L1 - 460.69 theo quy định của pháp luật.
- Bà Vũ Thị T2 không yêu cầu Nguyễn Văn Đ hoàn trả số tiền đã nhận cầm máy tính xách tay Acer Asprire 3.
Quá trình điều tra:
- Nguyễn Văn Đ và ông Nguyễn Công H1 khai khi Đ nhờ ông H1 chạy xe môtô biển số: 37L1 - 460.69 (bên trong có 04 máy tính xách tay) về giùm Đ không nói cho ông H1 biết rõ nguồn gốc tài sản. Khi đem cầm cố và bán 04 máy tính xách tay Đăng nói với những người nhận cầm cố và mua các tài sản trên là tài sản của Đ. Bà Vũ Thị T2, ông Hoàng Chu H và anh Nguyễn Văn Q cũng khai là không biết các tài sản này là do Đ phạm tội mà có.
- Lê Hữu T3, Đậu Ngọc A và Nguyễn Văn Đ khai khi T3 đi đến nhà Đ cùng A và khi cùng với A đi bán xe môtô biển số: 37L1 - 460.69, T3 cũng không biết xe môtô nêu trên là do Đ phạm tội mà có.
Tại Cáo trạng số: 407/CT-VKSBH-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, truy tố Đậu Ngọc A về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản”, truy tố Đậu Ngọc A về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Khoản 1 Điều 323 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt Đậu Ngọc A từ 08 tháng đến 01 năm tù.
- Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 587 và 589 Bộ luật Dân sự để:
- + Buộc Nguyễn Văn Đ bồi thường số tiền 13.996.000đ (mười ba triệu, chín trăm chín mươi sáu nghìn đồng) trị giá xe môtô biển số: 37L1 - 460.69 cho anh Hồ Viết S1.
- + Buộc Nguyễn Văn Đ hoàn trả lại số tiền 1.200.000đ (một triệu, hai trăm nghìn đồng) cho anh Nguyễn Văn Q và 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) cho ông Hoàng Chu H.
- + Buộc Nguyễn Văn Đ phải nộp lại số tiền 2.500.000đ (hai triệu, năm trăm nghìn đồng) và Đậu Ngọc A phải nộp lại số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Poco C40 của Đậu Ngọc A là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội và số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đang tạm giữ của Lê Hữu T3.
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa cho mình và cũng không yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu khác ngoài những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ của vụ án ra xem xét tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:
Trong quá trình điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cũng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên nên các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đúng theo quy định của pháp luật.
[2]. Về hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo:
- Khoảng 04 giờ 50 phút ngày 04/3/2024, tại Văn phòng Công ty TNHH Đ1 ở số: 12A, Quốc lộ E, khu phố H, phường P, thành phố B; Nguyễn Văn Đ đã có hành vi trộm cắp 01 xe môtô Yamaha Acruzo biển số: 37L1 - 460.69 và 01 máy tính xách tay Dell Vostro của anh Hồ Viết S1; 01 máy tính xách tay Acer Asprire 3 của chị Bùi Thị L1; 01 máy tính xách tay Asus K555L của anh Ngô Văn D và 01 máy tính xách tay Dell Inspiron 5520 của anh Lê Minh T1. Tổng trị giá tài sản mà Đ chiếm đoạt là 39.800.300₫ (ba mươi chín triệu, tám trăm nghìn, ba trăm đồng).
- Đến ngày 05/3/2024, Nguyễn Văn Đ đã đưa xe môtô Yamaha Acruzo biển số: 37L1 - 460.69 mà Đ đã trộm cắp trước đó để nhờ Đậu Ngọc A bán giùm với giá 2.000.000₫ (hai triệu đồng). Mặc dù biết rõ xe môtô nêu trên là do Đ phạm tội mà có nhưng Anh vẫn đồng ý đem đi bán và thu lợi bất chính số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa các bị cáo đều đã khai nhận hành vi thực hiện tội phạm của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với những nội dung mà Cáo trạng đã viện dẫn và truy tố.
Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, hành vi của bị cáo Đậu Ngọc A đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ; làm mất an ninh, trật tự tại địa phương.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo Nguyễn Văn Đ đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên còn phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Đậu Ngọc A đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về quyết định hình phạt:
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo; căn cứ vào nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì cần có mức án nghiêm, tiếp tục cách ly ra khỏi xã hội một thời gian đối với các bị cáo mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật; đồng thời cũng có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[6]. Về các vấn đề khác có liên quan:
- Đối với người tên Tạ Duy L2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ và sẽ xử lý sau.
- Đối với ông Nguyễn Công H1, bà Vũ Thị T2, ông Hoàng Chu H, anh Nguyễn Văn Q và anh Lê Hữu T3; khi giúp sức, mua và cầm cố tài sản cho Nguyễn Văn Đ đều không biết rõ nguồn gốc của tài sản nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là đúng theo quy định của pháp luật.
- Đối với tiền thu lợi bất chính, cần buộc Nguyễn Văn Đ phải nộp lại 2.500.000₫ (hai triệu, năm trăm nghìn đồng) và Đậu Ngọc A phải nộp lại 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Poco C40 của Đậu Ngọc A được sử dụng vào việc phạm tội và số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà Lê Hữu T3 đã tự nguyện nộp lại, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
- Đối với thiệt hại về tài sản của Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và có yêu cầu bồi thường; xét thấy đều có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật nên cần buộc Nguyễn Văn Đ phải có nghĩa vụ bồi thường cho: anh Hồ Viết S1 13.996.000đ (mười ba triệu, chín trăm chín mươi sáu nghìn đồng), anh Nguyễn Văn Q 1.200.000đ (một triệu, hai trăm nghìn đồng) và ông Hoàng Chu H 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
- Đối với chị Bùi Thị L1, anh Ngô Văn D, anh Lê Minh T1 và bà Vũ Thị T2 không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[8]. Về tiền án phí: các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp thêm tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của mình.
[9]. Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Đậu Ngọc A phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 12 tháng 3 năm 2024.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 323 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Đậu Ngọc A 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 12 tháng 3 năm 2024.
- Căn cứ vào Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 468, 584, 589 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Poco C40 màu xanh có số Imei 1: 862598050802982, số Imei 2: 862598050802990 và 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) (tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Biên lai thu tiền số: 2726 ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
- - Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp lại 2.500.000đ (hai triệu, năm trăm nghìn đồng) và bị cáo Đậu Ngọc A phải nộp lại 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Hồ Viết S1 13.996.000đ (mười ba triệu, chín trăm chín mươi sáu nghìn đồng), anh Nguyễn Văn Q 1.200.000đ (một triệu, hai trăm nghìn đồng) và ông Hoàng Chu H 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh Hồ Viết S1, anh Nguyễn Văn Q và ông Hoàng Chu H cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền bồi thường, hàng tháng bị cáo Nguyễn Văn Đ còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- - Án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Đậu Ngọc A mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
- - Án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp tổng số tiền 1.300.000₫ (một triệu, ba trăm nghìn đồng).
- Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Đậu Ngọc A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Riêng Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thành Tân |
Bản án số 404/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 404/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt tù giam
