Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 404/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10 tháng 6 năm 2025

Về việc Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Khắc Chung

Bà Huỳnh Thị Lệ Thu

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Thanh Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 822/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024, về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 822/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 451/2025/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Dương Thị Bích L, sinh ngày 1974, nơi cư trú: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cước công dân: [...]. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt đề ngày 21/5/2025.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1974, nơi cư trú: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cước công dân: [...]. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Dương Thị Bích L trình bày và có ý kiến như sau:

Bà và ông Phạm Văn M do mai mối sau đó có tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 114, quyển số 01/2015 cấp ngày 27/8/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, các bên đã sống ly thân đến thời điểm này đã hơn 23 năm, con chung giữa bà và ông M bao nhiêu tuổi thì bấy nhiêu năm bà và ông M ly thân nhau. Ông Phạm Văn M thường xuyên đi qua đêm, bỏ nhà đi đâu bà không biết, bà có nhiều lần hỏi han nhưng cứ y như rằng mỗi lần hỏi tới là có chuyện, ông M không quan tâm vợ con. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn M, bà cam kết từ trước đến nay vụ việc ly hôn giữa ông, bà chưa được giải quyết bằng bản án hay quyết định nào.

Bà với ông Phạm Văn M có 01 con chung tên Dương Văn T, sinh ngày 06/12/2002. Hiện nay con chung Dương Văn T, sinh ngày 06/12/2002 đã thành niên có khả năng lao động nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Phạm Văn M trình bày: Ông thống nhất với bà Dương Thị Bích L về nguyên nhân và thời gian tiến đến hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Trong thời gian chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng ông M nghĩ chỉ là mâu thuẫn nhỏ chưa đủ lớn để đi đến việc ly hôn, ông M muốn vợ chồng hàn gắn lại sống vì con vì con cũng đã lớn. Việc bà L nói ông thường xuyên đi xa nhà dẫn đến việc không quan tâm vợ con là ông không đồng ý, việc ông phải đi làm ăn xa là cũng vì kinh tế gia đình, ông thừa nhận hơn 20 năm nay ông có thiếu sót trong sinh hoạt vợ chồng với bà L, giường ai nấy ngủ, không quan hệ sinh hoạt vợ chồng nhưng ông thực tế vẫn còn rất thương gia đình; trong quá trình chung sống có nhiều lần bà L có hành vi quăng ném quần áo ông ra đường, ông cũng không chấp nhận được. Nay đối với yêu cầu ly hôn của bà L ông không đồng ý ly hôn; về con chung thì có 01 (một) con chung là Dương Văn T, sinh ngày 06/12/2002. Hiện nay con chung tên Dương Văn T, sinh ngày 06/12/2002 đã thành niên có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung: Trường hợp bà L cương quyết ly hôn thì ông cũng đồng ý nhưng với điều kiện bà L phải chia cho ông một số tài sản là tiền bán đất nền nhà, tiền cố đất; yêu cầu được chia đôi để có thu nhập sinh sống cho cuộc sống sau này vì theo ông đây là tài sản chung, cũng nhờ công sức của ông tạo lập nên.

- Tại phiên toà:

Nguyên đơn bà Dương Thị Bích L vắng mặt, có đơn xin vắng.

Bị đơn ông Phạm Văn M vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, đề nghị tiến hành phiên tòa vắng mặt ông M.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Vợ chồng bà Dương Thị Bích L với ông Phạm Văn M đã mâu thuẫn, tình cảm không còn, không sống chung với nhau, có thời gian ly thân thực tế các bên trình bày là trên 20 năm; Tòa án đã hòa giải nhưng không thành nên hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu ly hôn của bà Dương Thị Bích L là có căn cứ. Bà Dương Thị Bích L với ông Phạm Văn M có 01 con chung đã thành niên, có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Dương Thị Bích L không yêu cầu Tòa án giải quyết; trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phạm Văn M có lời trình bày và yêu cầu xem xét chia đôi tài sản chung nhưng ông không nộp Đơn yêu cầu phản tố nên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Về án phí sơ thẩm: Xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng

[1.1] Bà Dương Thị Bích L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn M cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý quan hệ tranh chấp là Ly hôn giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn bà Dương Thị Bích L, bị đơn ông Phạm Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt.

[1.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Văn M có lời trình bày yêu cầu chia tài sản chung (tại Biên bản hoà giải ngày 04/4/2025, bút lục số 25). Toà án có ban hành và tống đạt Thông báo số 572/TB-TA ngày 08/4/2025 về việc thực hiện yêu cầu phản tố cho bị đơn ông Phạm Văn M. Tuy nhiên, bị đơn ông M không gửi Đơn yêu cầu phản tố xem như ông M tự từ bỏ quyền lợi của mình không có yêu cầu phản tố trong vụ án này. Trường hợp ông M có yêu cầu tranh chấp về chia tài sản chung vợ chồng thì có thể nộp Đơn khởi kiện và xem xét giải quyết trong vụ án khác.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Bà Dương Thị Bích L với ông Phạm Văn M thông qua việc mai mối tự nguyện sống chung và đăng ký kết hôn theo pháp luật, được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang chứng nhận kết hôn số 114 ngày 27/8/2015. Vậy, bà Dương Thị Bích L với ông Phạm Văn M xác lập quan hệ vợ chồng. Tại Giấy khai sinh số 128/2006 ngày 18/4/2006 nơi đăng ký khai sinh Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang Dương Văn T, sinh ngày 06/12/2002, có mẹ tên Nguyễn Thị Mỹ T1 cũng như trong quá trình giải quyết ông Phạm Văn M có ý kiến Dương Văn T là con chung trong thời kỳ hôn nhân giữa ông với bà L, do vậy đủ cơ sở xác định Dương Văn T, sinh ngày 06/12/2002 là con chung giữa bà Dương Thị Bích L và ông Phạm Văn M.

[2.2] Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Bà Dương Thị Bích L kiên quyết yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn M, trình bày tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được. Ông Phạm Văn M trình bày còn yêu thương bà Dương Thị Bích L, yêu thương gia đình nhưng trên 20 năm nay ông có thiếu sót trong sinh hoạt vợ chồng với bà L, không quan tâm gia đình, vợ con; không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, không sống chung với nhau. Vậy, trong quá trình chung sống bà Dương Thị Bích L với ông Phạm Văn M đã phát sinh mâu thuẫn nên đã không sống chung với nhau một thời gian dài; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Bà Dương Thị Bích L với ông Phạm Văn M đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dương Thị Bích L.

[2.3] Bà Dương Thị Bích L với ông Phạm Văn M có 01 con chung tên Dương Văn T, sinh ngày 06/12/2002. Xét thấy, hiện con chung Dương Văn T đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.4] Bà Dương Thị Bích L với ông Phạm Văn M không yêu cầu giải quyết về nợ chung và tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp nếu có tranh chấp liên quan đến tài sản chung hoặc nợ chung thì sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật.

[3] Về án phí: Do bà Dương Thị Bích L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Dương Thị Bích L với ông Phạm Văn M.

- Về con chung: Giữa bà Dương Thị Bích L với ông Phạm Văn M có 01 (một) con chung tên Dương Văn T, sinh ngày 06/12/2002 đã thành niên, có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Bà Dương Thị Bích L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009215 ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của đương sự có mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Phú;
  • - UBND cấp xã nơi đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP; hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 404/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 404/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Liên yêu cầu ly hôn với Mối
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger