|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU TỈNH CÀ MAU Bản án số: 404/2025/DS-ST Ngày: 18 – 12 – 2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
- Bà Đỗ Mỹ Lil
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Ngân, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 430/2025/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 430/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng.
Địa chỉ: Số 89, Đường LH, Phường ĐĐ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Chí D, là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng).
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Minh K, là chuyên viên xử lý nợ pháp lý Ngân hàng (Văn bản ủy quyền ngày 02/10/2025, xin vắng mặt).
Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 18/12/2021.
- Bị đơn: Chị Trần Kim L, sinh năm: 1989 (vắng mặt).
Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 14/7/2022.
Địa chỉ: Ấp C.M, xã K.H, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 26/6/2025, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 12/12/2023, chị Trần Kim L có ký hợp đồng tín dụng số LN2312141234698 với Ngân hàng để vay số tiền 105.000.000đ, thực tế giải ngân ngày 15/12/2023 với số tiền 94.300.000₫, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất trong hạn 22%/năm, lãi suất quá hạn 33%/năm, được điều chỉnh theo từng thời điểm; mục đích vay để tiêu dùng cá nhân. Hình thức vay tiêu dùng tín chấp, trả góp hàng tháng. Sau khi nhận tiền, chị L có thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc 1.519.892đ, tiền lãi 9.847.215đ, sau đó ngưng thanh toán cho đến nay.
Từ nội dung trên, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị Trần Kim L phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng như sau:
Nợ gốc: 92.780.108đ, nợ lãi trong hạn: 35.153.352đ, nợ lãi quá hạn: 17.576.676₫, tổng các khoản: 145.510.136₫.
Đối với chị Trần Kim L, mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp hoà giải và xét xử nhiều lần nhưng chị L vẫn không có ý kiến phản hồi, đồng thời cũng không có mặt tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng chỉ khởi kiện và yêu cầu một mình chị Trần Kim L thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn ; chị Trần Kim L tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn trong vụ án là đúng quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về loại việc tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án thực hiện đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thời hiệu khởi kiện : Các bên đương sự phát sinh giao dịch từ ngày 12/12/2023 đến ngày 26/6/2025 nguyên đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nên thời hiệu khởi kiện vẫn đảm bảo theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự. Về việc vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đại diện nguyên đơn theo luật định. Đối với bị đơn, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp hoà giải và xét xử nhiều lần nhưng chị L vẫn không có ý kiến phản hồi, đồng thời cũng không có mặt tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Trần Kim L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là hợp đồng tín dụng, có quy định thời hạn và có lãi suất. Hợp đồng tín dụng này được thiết lập trên tinh thần tự nguyện thỏa thuận của hai bên và phù hợp pháp luật, đồng thời trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo thỏa thuận nên được chấp nhận làm cơ sở thanh lý hợp đồng.
[3] Căn cứ giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm ngày 12/12/2023 được thiết lập giữa Ngân hàng với chị Trần Kim L thể hiện chị L có vay nợ tại Ngân hàng số nợ gốc là 94.300.000₫ và lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng đã giao kết. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng xác định rằng chị L có thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc là 1.519.892đ và khoản lãi phát sinh thì ngưng thanh toán cho đến nay. Vì vậy, có cơ sở xác định hiện tại chị Trần Kim L còn nợ Ngân hàng khoản nợ gốc là 92.780.108đ và khoản nợ lãi chưa thanh toán nên cần buộc chị L phải có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi cho Ngân hàng là hoàn toàn phù hợp.
[4] Thấy rằng, mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là cao so với quy định chung của pháp luật. Song, theo khoản 2 Điều 91 của Luật Tổ chức tín dụng có quy định: Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất. Tại khoản 1 Điều 1 của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận. Mặt khác, theo Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm được lựa chọn từ Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16-5-2013 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17-10-2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì: “Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định: “Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm thi hành án” cũng là không đúng. Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”.
Hội đồng xét xử xét thấy tính chất, các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án này tương tự như các tình tiết, sự kiện pháp lý trong án lệ. Vì vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 1 của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước và Án lệ số 08/2016/AL, có đủ cơ sở để chấp nhận mức lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng mà chị Trần Kim L và Ngân hàng đã giao kết.
Do vậy, cần buộc chị L phải có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi cho Ngân hàng với tổng số tiền 145.510.136₫, trong đó nợ gốc: 92.780.108đ, nợ lãi trong hạn: 35.153.352đ, nợ lãi quá hạn: 17.576.676đ là có căn cứ.
[5] Do phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng nên chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ngân hàng không phải chịu án phí, đã nộp tạm ứng án phí sẽ được hoàn lại khi quyết định có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 422, 429 của Bộ luật dân sự;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 91 của Luật Tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 1 của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước;
- - Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17-10-2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
- - Căn cứ Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc chị Trần Kim L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng các khoản là: 145.510.136₫ (một trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm mười nghìn một trăm ba mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc: 92.780.108đ, nợ lãi trong hạn: 35.153.352đ, nợ lãi quá hạn: 17.576.676đ và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được ghi trong hợp đồng tín dụng đến khi thi hành xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc chị Trần Kim L phải chịu 7.275.000₫ (bảy triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Ngân hàng không phải nộp án phí, ngày 24/10/2025 Ngân hàng đã nộp tạm ứng án phí số tiền 3.650.000₫, theo biên lai số 3130 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau được hoàn lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ngân hàng; chị Trần Kim L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Hứa Minh Hải |
Bản án số 404/2025/DS-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 404/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc chị Trần Kim L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng các khoản là: 145.510.136đ (một trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm mười nghìn một trăm ba mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc: 92.780.108đ, nợ lãi trong hạn: 35.153.352đ, nợ lãi quá hạn: 17.576.676đ và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được ghi trong hợp đồng tín dụng đến khi thi hành xong.
