|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 404/2024/DS-PT
Ngày: 11-6-2024
“V/v đòi lại quyền sử dụng đất và
yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 675/2023/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp về đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2023/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1563/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Bà Ngô Thị N, sinh năm 1948; cư trú: số A, ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú hiện tại: 1115, Ednor road, S, M, USA (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phan Văn B, sinh năm 1970; cư trú: Tổ B, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1966 (vắng mặt)
- Bà Ngô Thị L1, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Cùng cư trú: Số C, Nguyễn Hữu C, tổ A, ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Huỳnh Thị Bích T; cư trú: Tổ A, khóm H, phường N, thị xã T, An Giang (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Đỗ Phú K – Công ty L2, Đoàn luật sư T3 (có mặt).
Người có quyền lợi – nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện C (vắng mặt)
- Bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1963; Trú tại: ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1963 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1965; cư trú: Số C, Nguyễn Hữu C, tổ A, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1954; cư trú: Số D, Phan Thanh G, ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Lương Thị P1 (sau khi thụ lý bà P1 chết).
- Ông Ngô Văn N1, sinh năm 1957; cư trú: ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Ngô Văn T1, sinh năm 1967; cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
- Ông Ngô Đình C1, sinh 1967; cư trú: ấp M, xã M, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Ngô Đình N2, sinh năm 1972; cư trú: ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Ngô Văn T2 (chết).
- Bà Đinh Thị H1, sinh năm 1958; cư trú: Số C, tổ A, ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Ngô Thị Đ1, sinh năm 1982; cư trú: Ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Ngô Thị L1, sinh năm 1978; cư trú: 31B, tổ A, ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Ngô Văn B1, sinh năm 1950 (chết).
- Ông Ngô Hữu Đ2, sinh năm 1978; cư trú: 351/28, Lê Đại H2, phường A, Quận A, Thành Phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Ngô Thị Q, sinh năm 1979; cư trú: 3854, P, Du Marechal L h7e. Oa2 – Canada (vắng mặt).
- Ngô Thị Thúy Q1, sinh năm 1984; cư trú: 12255 6e, M, Q - Canada (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Phát H3, sinh năm 2001; cư trú: Số C, Nguyễn Hữu C, ấp H, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Phát H4, sinh năm 2007; cư trú: Số C, Nguyễn Hữu C, ấp H, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt); đại diện theo pháp luật có cha mẹ là ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của ông P: Bà Huỳnh Thị Bích T; cư trú: Tổ A, khóm H, phường N, thị xã T, An Giang (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn M1 và bà Nguyễn Thị Thu H: ông Nguyễn Tấn P (vắng mặt).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà P1:
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T2:
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B1:
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Thanh L và bà Ngô Thị L1 kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn bà Ngô Thị N trình bày:
Mẹ ruột của bà N là cụ Lương Thị P1; Bị đơn bà Ngô Thị L1 là cháu nội của cụ P1.
Vợ chồng ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 có diện tích đất 409,2m² thửa số 76, tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại ấp H, thị trấn C. Ngày 23/12/2013, vợ chồng ông L, bà L1 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công chứng số 1521, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013 để chuyển nhượng cho cụ Lương Thị P1 diện tích đất trên, với giá ghi trong hợp đồng là 728.645.000đ, nhưng giá thỏa thuận thực tế là 55.000 USD. Ngày 20/01/2014, cụ Lương Thị P1 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH0267.
Vợ chồng ông Nguyễn Tấn P (ông P là em ruột của ông L), bà Nguyễn Thị Thu H có diện tích đất 475,7m² thửa số 75, tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại ấp H, thị trấn C (liền kề thửa đất ông L chuyển nhượng cho cụ P1). Ngày 23/12/2013, ông P, bà H đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công chứng số 1520, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013 để chuyển nhượng cho cụ Lương Thị P1 diện tích đất trên, với số tiền 71.355.000đ, giá thực tế thỏa thuận là 15.000 USD. Ngày 20/01/2014, cụ Lương Thị P1 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH0267.
Ngày 26/11/2015, cụ Lương Thị P1 đến Văn phòng C2 ký Hợp đồng tặng cho con gái là bà Ngô Thị N 02 thửa đất nêu trên. Ngày 15/01/2016, bà N được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02068 đối với diện tích đất thực tế 351,6m², trong đó có 127,12m² đất nhà ở, thửa đất số 76, tờ bản đồ số 26; Cùng ngày 15/01/2016, bà N được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02067 đối với diện tích đất thực tế 526m², thửa 75, tờ bản đồ số 26.
Hai thửa đất nêu trên hiện nay đang do gia đình ông L bà L1 quản lý không chịu giao trả lại cho bà N nên bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau:
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 và các con phải di dời tài sản trên đất và giao trả cho bà N diện tích đất 351,6m², thửa số 76, tờ bản đồ số 26 và diện tích đất 526m², thửa số 75, tờ bản đồ 26. Cả hai thửa đất tọa lạc tại ấp H, thị trấn C.
Nếu bị đơn muốn giữ lại đất thì phải trả giá trị đất là 5.000.000.000đ (năm tỷ đồng).
- Bị đơn ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 trình bày:
Ông bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bởi vì, đất này ông bà không có chuyển nhượng; do trước đây vợ chồng ông L, bà L1 làm ăn thất bại, nợ nần nên có mượn của bà N số tiền 55.000.000 USD (đô la Mỹ) để làm ăn. Còn số tiền 15.000 USD, bà N có chuyển cho ông Nguyễn Thanh D 15.000 USD hay không ông bà không biết.
Ông L, bà L1 có đơn yêu cầu phản tố huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công chứng số 1520, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013, huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công chứng số 1521, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013 và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số: CH02068 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH02067 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/01/2016 cho bà Ngô Thị N.
Nếu bà N đồng ý nhận bằng tiền thì ông L, bà L1 chỉ đồng ý trả tiền là 3.500.000.000đ (ba tỷ năm trăm triệu đồng).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tấn P, bà Nguyễn Thị Thu H thống nhất với ý kiến của ông L, bà L1.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông C1, bà Đ3, ông N1, ông N2, T1, ông Đ2, Ngô Thị Q và bà Ngô Thị Thúy Q1 trình bày: Đất do cụ Lương Thị P1 nhận chuyển nhượng và tặng cho lại con gái của bà là bà Ngô Thị N. Thủ tục nhận chuyển nhượng của bà P1 và thủ tục tặng cho bà N là đúng quy định pháp luật nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, chúng tôi không có tranh chấp gì.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số:36/2023/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Bản án sơ thẩm số 15/2024/QĐ-SCBSBA ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị N.
Buộc ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1, anh Nguyễn Phát H3, anh Nguyễn Phát H4 tháo dỡ, di dời vật kiến trúc và cây lâu năm khác trả lại diện tích đất 526m², thửa số 75, tờ bản đồ số 26 cho bà Ngô Thị N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02067 ngày 15/01/2016 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp;
Buộc ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1, anh Nguyễn Phát H3, anh Nguyễn Phát H4 tháo dỡ, di dời vật kiến trúc và cây lâu năm khác trả lại diện tích 351,6m², thửa số 76, tờ bản đồ số 26 cho bà Ngô Thị N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02068 ngày 15/01/2016 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp.
Trừ phần diện tích căn nhà của ông Nguyễn Văn M1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhà bằng gạch có diện tích 17,9m² tại các điểm 35, 39, 6, 7, 8 và 36 theo bản vẽ ngày 20/8/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 về yêu cầu hủy 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập cùng ngày 23/12/2013 và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CH02068 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02067, đất trồng cây lâu năm do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/01/2016 cho bà Ngô Thị N.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 03/7/2023, ông Nguyễn Thanh L và bà Ngô Thị L1 kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Huỳnh Thị Bích T là người đại diện của bị đơn xin rút lại một phần yêu cầu phản tố đối với đề nghị hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1520, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013, giữa ông Nguyễn Tấn P, bà Nguyễn Thị Thu H với cụ Lương Thị P1 và rút yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02067 mà nguyên đơn đã được cấp.
Ông Phan Văn B là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bà Huỳnh Thị Bích T là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Tấn P đồng ý với việc bị đơn xin rút một phần yêu cầu phản tố của nguyên đơn.
Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu rút một phần yêu cầu phản tố nêu trên của bị đơn. Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1521, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013 giữa ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 với cụ Lương Thị P1 về diện tích 409,2 m2 đất ở đô thị, tại thửa số 76, tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc ấp H, thị trấn C, huyện C, Luật sư cho rằng đây là hợp đồng giả tạo nhằm che đậy cho hợp đồng ông L, bà L1 vay của bà N 55.000 USD; giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là 728.645.000 đồng là thấp hơn giá thị trường, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, tuyên hợp đồng chuyển nhượng này bị vô hiệu. Bị đơn sẽ trả lại cho nguyên đơn 55.000 USD và lãi suất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút một phần yêu cầu phản tố của bị đơn. Hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố bị đơn đã rút.
Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1521, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013 giữa ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 với cụ Lương Thị P1, đây là hợp đồng hợp pháp, có hiệu lực pháp luật. Bị đơn kháng cáo đề nghị tuyên bố giao dịch vô hiệu và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02068 nguyên đơn đã được cấp là không có căn cứ chấp nhận, nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên đối với phần này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện được bị đơn ủy quyền có cung cấp file ghi âm, nhưng nội dung trong file ghi âm này không thể hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1521, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013, giữa ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 với cụ Lương Thị P1 về diện tích 409,2 m2 đất ở đô thị, tại thửa 76, tờ bản đồ 26, đất tọa lạc ấp H, thị trấn C, huyện C là hợp đồng giả tạo nhằm che đậy cho hợp đồng ông L, bà L1 vay của bà N 55.000 USD nên không được xem là chứng cứ để giải quyết vụ án.
[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Huỳnh Thị Bích T là người đại diện của bị đơn đã xin rút một phần yêu cầu phản tố đối với yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1520, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013, giữa ông Nguyễn Tấn P, bà Nguyễn Thị Thu H với cụ Lương Thị P1 đối với diện tích 475,7m2 đất nông nghiệp, tại thửa số 75, tờ bản đồ 26; đất tọa lạc ấp H, thị trấn C, huyện C và rút yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nguyên đơn đã được cấp đối với diện tích đất nêu trên. Xét thấy, diện tích 475,7m2 nêu trên ông P, bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, nên ông P, bà H có quyền chuyển nhượng cho cụ Lương Thị P1. Việc chuyển nhượng này không liên quan và không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bị đơn ông L, bà L1. Do đó, việc người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn xin rút yêu cầu phản tố trên, được ông Phan Văn B là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bà Huỳnh Thị Bích T là người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn P đồng ý, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với một phần yêu cầu phản tố đương sự đã rút nêu trên. Án phí và chi phí tố tụng khác đối với yêu cầu đã rút các đương sự phải chịu như án sơ thẩm đã tuyên.
[3]. Đối với số tiền 15.000 USD là số tiền thanh toán Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1520, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013, giữa ông Nguyễn Tấn P, bà Nguyễn Thị Thu H với cụ Lương Thị P1 đối với diện tích 475,7m2 đất nông nghiệp, bên nguyên đơn cho rằng đã thanh toán cho bị đơn thông qua ông Nguyễn Văn D1 (anh ruột của ông L, ông P hiện nay đang sinh sống ở Hoa Kỳ) (Bút lục 22, 224), nhưng vợ chồng ông L, bà L1 và vợ chồng ông P, bà H không thừa nhận. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông D1 vào tham gia tố tụng để xem xét về số tiền 15.000 USD nêu trên là có thiếu sót. Tuy nhiên, đối với Hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông P, bà H với cụ P1 có liên quan số tiền 15.000 USD này, bên bị đơn có yêu cầu phản tố nhưng tại phiên toà phúc thẩm đã rút yêu cầu, nên vi phạm trên không còn ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự. Sau này nếu hai bên có tranh chấp về số tiền này thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
* Về nội dung:
[4]. Đối với diện tích 475,7 m2 đất nông nghiệp, thửa đất số 75, tờ bản đồ 26; đất tọa lạc ấp H, thị trấn C, huyện C thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Tấn P, bà Nguyễn Thị Thu H (giáp ranh với thửa đất cụ P1 nhận chuyển nhượng của ông L, bà L1), ông P, bà H ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1520, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013, chuyển nhượng cho cụ P1 toàn bộ diện tích đất nêu trên với giá ghi trong hợp đồng chuyển nhượng là 71.355.000 đồng, giá thực tế hai bên thỏa thuận là 15.000 USD. Xét, Hợp đồng chuyển nhượng này về hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 697, 698, 699, 700, 701, 702 của Bộ luật dân sự năm 2005. Cụ P1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã tặng cho lại con gái là bà N, sau đó bà N cũng đã được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hợp đồng chuyển nhượng đất này không liên quan đến ông L, bà L1, nhưng ông L là anh của ông P đang quản lý, sử dụng diện tích đất này không chịu giao lại cho bà N. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm buộc vợ chồng ông L, bà L1 và các con phải phá dỡ, di dời tài sản trên đất để giao trả lại đất cho bà N là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[5]. Đối với diện tích 409,2 m2 đất ở đô thị, tại thửa đất số 76, tờ bản đồ 26; đất tọa lạc ấp H, thị trấn C, huyện C thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1, xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1521, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013, giữa vợ chồng ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 với cụ Lương Thị P1 (cụ P1 là bà nội của bà L1) được Văn phòng Công chứng A tỉnh A công chứng: ông L, bà L1 chuyển nhượng cho cụ P1 toàn bộ diện tích đất nêu trên với giá ghi trong Hợp đồng chuyển nhượng là 728.645.000 đồng, giá thực tế thỏa thuận là 55.000 USD. Hợp đồng chuyển nhượng này về hình thức và nội dung là phù hợp với quy định tại Điều 697, 698, 699, 700, 701, 702 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Cụ P1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã tặng cho lại con gái là bà N. Sau đó bà N cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng ông L và bà L1 chưa thực hiện nghĩa vụ giao đất cho cụ P1 và bà N là vi phạm vào khoản 2 Điều 702 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm buộc vợ chồng ông L, bà L1 và các con phải phá dỡ, di dời tài sản trên đất để giao trả lại đất cho bà N và không chấp nhận yêu cầu phản tố yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1521, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013, giữa vợ chồng ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 với cụ Lương Thị P1 và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CH02068 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Ngô Thị N, là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[6]. Việc ông L, bà L1 kháng cáo cho rằng số tiền 55.000 USD là số tiền vay của bà N, còn Hợp đồng chuyển nhượng đất là để làm tin cho khoản vay nhưng không có chứng cứ chứng minh, nên không được chấp nhận.
[7]. Từ những căn cứ nên trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông L, bà L1.
[8]. Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu rút một phần yêu cầu phản tố của bị đơn đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P, bà H với cụ P1, là có căn cứ chấp nhận. Đối với quan điểm của Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, tuyên huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L, bà L1 với cụ P1, bị đơn sẽ trả lại cho nguyên đơn 55.000 USD và lãi suất, là không có căn cứ chấp nhận.
[9]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút một phần yêu cầu phản tố của bị đơn, hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P, bà H với cụ P1; Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn đề nghị hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L, bà L1 với cụ P1, là có căn cứ chấp nhận.
[10]. Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[11]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo kháng nghị.
Bởi các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Bích T là người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 xin rút một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.
Hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2023/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Bản án sơ thẩm số: 15/2024/QĐ-SCBSBA ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 về đề nghị hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1520, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013 giữa ông Nguyễn Tấn P, bà Nguyễn Thị Thu H với cụ Lương Thị P1 đối với diện tích 475,7m2 đất nông nghiệp, thửa đất số 75, tờ bản đồ số 26 tọa lạc ấp H, thị trấn C, huyện C và rút yêu cầu đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02067, ngày 15/01/2016 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Ngô Thị N.
Đối với số tiền 15.000 USD có liên quan đến Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1520 ngày 23/12/2013 giữa ông Nguyễn Tấn P, bà Nguyễn Thị Thu H với cụ Lương Thị P1, nếu sau này ông Nguyễn Tấn P, bà Nguyễn Thị Thu H có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 đề nghị hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1521, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013, giữa ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 với cụ Lương Thị P1 và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CH02068 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Ngô Thị N.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 657/2022/DSST ngày 19 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Áp dụng các Điều: 697, 698, 699, 700, 701, 702 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều: 105, 107, 166, 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự 2015; các Điều: 166, 167, 168, 169 Luật Đất đai 2013 và Nghị quyết 362/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị N về yêu cầu “Đòi lại quyền sử dụng đất”.
- - Buộc ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1, anh Nguyễn Phát H3 và anh Nguyễn Phát H4 phải tháo dỡ, di dời hoặc phá bỏ nhà, vật kiến trúc, cây lâu năm và các tài sản khác trên diện tích đất 351,6m2, thửa số 76, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp H, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (Trừ diện tích 17,9m2 căn nhà của ông Nguyễn Văn M1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thể hiện tại các điểm 35, 39, 6, 7, 8 và 36 theo bản vẽ ngày 20/8/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện C) để giao trả cho bà Ngô Thị N diện tích đất 351,6m2 nêu trên;
- - Buộc ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1, anh Nguyễn Phát H3, anh Nguyễn Phát H4, ông Nguyễn Tấn P và bà Nguyễn Thị Thu H phải tháo dỡ, di dời hoặc phá bỏ nhà, vật kiến trúc, cây lâu năm và các tài sản khác trên diện tích đất 526m2, thửa số 75, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại ấp H, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang để giao trả cho bà Ngô Thị N diện tích 526m2 nêu trên.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thanh L và bà Ngô Thị L1 về yêu cầu phản tố đề nghị huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1521, Quyển số 04/2013/TP/CC/HĐGD ngày 23/12/2013, giữa vợ chồng ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 với cụ Lương Thị P1 và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số CH02068 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Ngô Thị N.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1 mỗi người phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số: 0000338 ngày 05/7/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
(02 diện tích đất nêu trên bà Ngô Thị N đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02067 ngày 15/01/2016 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02068 ngày 15/01/2016 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp; Bản vẽ ngày 20/8/2018 của Văn phòng Đ chi nhánh C3 không thể tách rời bản án sơ thẩm).
- Ông Nguyễn Thanh L, bà Ngô Thị L1, anh Nguyễn Phát H3 và anh Nguyễn Phát H4 được lưu cư trên đất trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 404/2024/DS-PT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 404/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Ngô Thị N kiện ông Nguyễn Thanh L và bà Ngô Thị L v/v "đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
