Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 403/2024/DS-PT

Ngày: 26-8-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tâm;

Bà Võ Thị Hồng Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 255/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 v/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”; do Bản án Dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 348/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Trương Văn S, sinh năm 1991; có mặt.
  • Cư trú tại: tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  • - Bị đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1966, Vắng mặt, có đơn xin;
  • Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963, vắng mặt;
  • Cùng cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  • Người đại diện theo ủy quyền của ông T1: Bà Lê Thị T, sinh năm 1966; cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (văn bản ủy quyền ngày 10/11/2023). Vắng mặt, có đơn xin.

Người kháng cáo: Bà Lê Thị T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 31/10/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trương Văn S trình bày:

Ngày 09/11/2020 anh có nhận chuyển nhượng của bà T, ông T1 02 phần đất gồm:

  • - Phần đất thứ 1: ngang 9m x dài hết đất, mặt tiền đường 795, có 200m² đất thổ cư, trên đất có trồng cây cao su; đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Lê Thị T đứng tên. Giá chuyển nhượng là 200.000.000 đồng/m ngang x 9m = 1.800.000.000 đồng;
  • - Phần đất thứ 2: diện tích 6000m², nằm phía sau giáp phần đất thứ nhất nêu trên, trên đất có trồng cây cao su; đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn T1 đứng tên. Giá chuyển nhượng là 600.000.000 đồng;

Cả 02 phần đất trên anh nhận chuyển nhượng giá 2.400.000.000 đồng. Khi chuyển nhượng hai bên có viết giấy tay chuyển nhượng. Ngày 09/11/2020 anh có trả tiền cho bà T 2.000.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận khi nào công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xong anh sẽ trả số tiền 400.000.000 đồng còn lại. Hai bên thỏa thuận sau khi bà T, ông T1 làm thủ tục đổi sổ chính quy xong sẽ làm thủ tục chuyển nhượng. Hai bên chưa tiến hành đo đạc diện tích đất và cũng chưa giao đất chuyển nhượng cho anh, nhưng bà T có giao cho anh được khai thác mủ cao su trồng trên đất từ tháng 4/2021 đến nay. Sau nhiều lần anh có gặp bà Thương yêu c hoàn thành thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bà T trả lời là đất bà đang khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Y, sự việc kéo dài đến nay bà T, ông T1 không hoàn thành thủ tục chuyển nhượng đất cho anh.

Nay anh yêu cầu bà T, ông T1 thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh đối với 02 phần đất như nêu trên, anh đồng ý trả cho bà T, ông T1 số tiền còn lại 400.000.000 đồng.

Tại biên bản hòa giải ngày 05 tháng 12 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Lê Thị T và đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T1, bà Lê Thị T trình bày:

Bà T thừa nhận ngày 09/11/2020 bà và ông T1 chồng bà có chuyển nhượng cho anh Trương Văn S 02 phần đất và giá chuyển nhượng đúng như anh S trình bày. Bà đã nhận số tiền chuyển nhượng là 2.000.000.000 đồng, còn lại 400.000.000 đồng hai bên thỏa thuận khi nào công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xong anh S sẽ trả. Hai bên chưa tiến hành đo đạc diện tích đất và bà cũng chưa giao đất chuyển nhượng cho anh S, nhưng bà có giao cho anh S được khai thác mủ cao su trồng trên đất từ tháng 4/2021 đến nay. Bà thừa nhận anh S có nhiều lần yêu cầu bà hoàn thành thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng do bà phát hiện đất bà bị thiếu do ông Y và bà Đ giáp ranh đất lấn chiếm đất của bà nên bà không tiến hành cấp đổi sổ qua hệ thống bản đồ chính quy, mà để khởi kiện ông Y và bà Đ. Việc hòa giải tranh chấp đất đai tại UNND xã không thành bà có đề nghị chuyển đến Tòa án.

2

Do đất bà hiện nay đang khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Y và bà Đ nên bà không đồng ý tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh S.

Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 24 tháng 11 năm 2023 bị đơn bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

Bà T, ông T1 yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T1, bà Lê Thị T và anh Trương Văn S đối với 02 diện tích đất: diện tích 1255,5m² tại giấy chứng nhận QSDĐ số 03356 UBND huyện T cấp ngày 21/02/2002 đứng tên Lê Thị T và diện tích đất 6000m2 tại giấy chứng nhận QSDĐ số CH00630 UBND huyện T cấp ngày 10/01/2011 đứng tên Nguyễn Văn T1, Lê Thị T đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Vợ, chồng bà đồng ý trả lại cho anh S số tiền đã nhận đặt cọc 2.000.000.000 đồng. Vì hai bên chỉ mới giao nhận tiền đặt cọc, chưa tiến hành đo đạc và chưa giao đất; vợ chồng bà không vi phạm hợp đồng chuyển nhượng mà anh S khởi kiện vợ, chồng bà.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 129, 500, 501 Bộ luật Dân sự; Điều 147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn S đối với bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Trương Văn S và bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1 lập ngày 09/11/2020. Anh Trương Văn S có quyền sử dụng 02 phần đất gồm:

  • + Phần đất thứ nhất: Diện tích đất 1245,7m² (trong đó: Đất thổ cư 200m², đất vườn 1045,7m²) và 55 cây cao su, 02 cây xoài trồng trên đất; thửa đất số 24, tờ bản đồ số 16B cũ, tương ứng một phần thửa 127 tờ bản đồ số 39 mới; tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận:
  • - Hướng Đông giáp đất bà T, ông T1, dài 136,08m;
  • - Hướng Tây giáp đất Dững và đất bà T, ông T1 chuyển nhượng cho anh S, dài (54,82 + 81,35) 136,17m;
  • - Hướng Nam giáp đất bà X dài 9m;
  • - Hướng Bắc giáp đường DT 795, dài 9m.
  • + Phần đất thứ hai: Diện tích đất 5335,8m², đất trồng cây lâu năm (CLN) và 325 cây cao su trồng trên đất; thửa đất số 308, tờ bản đồ số 53 cũ, tương ứng một phần thửa 127 tờ bản đồ số 39 mới; tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận:

3

  • - Hướng Đông giáp đất bà T, ông T1 (chuyển nhượng cho ông S) và đất bà X, bà T2, dài (81,35 + 55,43 + 74,48) 211,26m;
  • - Hướng Tây giáp đất ông Đ1 (thửa 128), dài (77,83 + 136,09) 213,92m;
  • - Hướng Nam giáp đất bà T2 dài 25,09m;
  • - Hướng Bắc giáp đất bà V, ông D, dài (10 + 7 + 8,14) 25,14m.

Anh Trương Văn S có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 phần đất trên.

  1. Ghi nhận anh Trương Văn S có nghĩa vụ thanh toán tiếp cho bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1 số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng).
  2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Nội dung kháng cáo: Theo đơn kháng cáo đề ngày 18 tháng 6 năm 2024 của bà Lê Thị Thương yêu c1 Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;

+ Về nội dung: Xét tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thấy rằng: Ngày 09/11/2020 anh S và ông T1, bà T có ký hợp đồng chuyển nhượng 02 phần đất gồm: phần thứ nhất diện tích 1.245,7m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà T đứng tên; phần thứ hai diện tích diện tích theo giấy là 5.394m² (đo thực tế là 5.335,8m²) do ông T1 và bà T cùng đứng giấy. Giá chuyển nhượng là 2.400.000.000 đồng, hai bên có lập giấy tay; anh S đã giao cho ông T1, bà T 2.000.000.000 đồng, anh S đã nhận đất quản lý, khai thác mủ cao su, còn lại 400.000.000 đồng sẽ thanh toán khi tiến hành ký kết hợp đồng công chứng. Tuy hợp đồng chưa công chứng nhưng thực tế 01 bên nhận đất sử dụng, số tiền giao hơn 2/3 giá trị hợp đồng. Cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bà T, ông T3 có yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng với lý do là có tranh chấp ranh đất với ông Y, bà Đ. Tuy nhiên tại thời điểm xét xử sơ thẩm bà T chưa khởi kiện ai liên quan đến phần đất tranh chấp. Mặt khác vị trí đất bà chuyển nhượng cho anh S không liên quan đến phần tranh chấp ranh với bà Đ, ông Y. Nên yêu cầu của bà

4

T là không có cơ sở chấp nhận.

Bà T kháng cáo nhưng không xuất trình thêm chứng cứ mới. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Sau khi Tòa án nhân dân huyện Tân Biên xét xử sơ thẩm ngày 05-6-2024, bà Lê Thị T có đơn kháng cáo ngày 18-6-2024; có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm; Xét thấy việc kháng cáo là đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Bà T kháng cáo, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn thấy rằng;

[2.1] Về hình thức hợp đồng chuyển nhượng: Anh Trương Văn S và bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn T1 thừa nhận ngày 09/11/2020 bà T, ông T1 có chuyển nhượng cho anh S 02 phần đất:

  • - Phần đất thứ 1: ngang 9m x dài hết đất, mặt tiền đường 795, có 200m² đất thổ cư, còn lại là đất vườn; thửa đất số 24, tờ bản đồ số 16B, đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số vào sổ cấp GCN: 03356 cấp ngày 21/02/2002, cho bà Lê Thị T đứng tên. Trên đất có trồng cây cao su, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Giá chuyển nhượng là 200.000.000 đồng/m ngang x 9m = 1.800.000.000 đồng;
  • - Phần đất thứ 2: diện tích 6000m², đất trồng cây lâu năm khác (diện tích theo giấy là 5.394m²; đo thực tế là 5.335,8m²); thuộc thửa đất số 308, tờ bản đồ số 53, đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số vào sổ cấp GCN: CH00630 cấp ngày 10/01/2011, cho ông Nguyễn Văn T1, bà Lê Thị T đứng tên. Phần đất này nằm phía trong giáp phần đất thứ nhất, trên đất có trồng cây cao su. Giá chuyển nhượng là 600.000.000 đồng.

Tổng cộng 02 phần đất chuyển nhượng giá 2.400.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng có lập văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất ngày 09/11/2020, không có công chứng, chứng thực. Theo quy định tại Điều 502 của Bộ luật Dân sự và khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định “Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật”. Xét thấy, mặc dù hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về hình thức, trong giấy chuyển nhượng ghi đặt cọc số tiền 2.000.000.000 đồng nhưng trong quá trình giải quyết anh S và bà T thừa nhận bà T, ông T1 đã giao cây cao su trên đất cho anh S được quyền khai thác mủ cao su từ tháng 4/2021 đến nay. Mặt khác, anh S đã trả cho bà T, ông T1 số tiền

5

2.000.000.000 đồng (hơn hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch). Căn cứ vào Điều 129 của Bộ luật Dân sự thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà anh S với bà T, ông T1 có hiệu lực.

[2.2] Đối với số tiền chuyển nhượng cả hai phần đất trên là 2.400.000.000 đồng, anh S đã trả cho bà T, ông T1 1.800.000.000 đồng, anh S đồng ý thanh toán cho bà T, ông T1 số tiền còn lại 400.000.000 đồng. Xét thấy tại biên bản định giá tài sản ngày 25/4/2024 thể hiện diện tích đất 1245,7m² trị giá 1.800.000.000 đồng; diện tích đất 5.335,8m² trị giá 533.580.000 đồng. Như vậy giá trị đất tại thời điểm định giá thấp hơn giá trị đất tại thời điểm chuyển nhượng nên không có thiệt hại về giá đất đối với bà T, ông T1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3] Xét yêu cầu phản tố của bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T1, bà Lê Thị T với anh Trương Văn S đối với 02 phần đất chuyển nhượng nêu trên. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tại thời điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T, ông T1 với anh S, đất chuyển nhượng không có tranh chấp, được thể hiện tại “Giấy sang nhượng đất thổ cư và đất cao su” lập ngày 09/11/2020. Tại thời điểm Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án cho đến khi xét xử, bà T, ông T1 cũng không khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với hai phần đất chuyển nhượng nêu trên. Bà T, ông T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh S vào ngày 09/11/2020 đến nay bà T, ông T1 không tiến hành làm thủ tục cấp đổi sổ chính quy và hoàn thành thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại “Giấy sang nhượng đất thổ cư và đất cao su” lập ngày 09/11/2020 ghi đặt cọc số tiền 2.000.000.000 đồng, nhưng bà T ông T1 đã giao đất trồng cây cao su cho anh S sử dụng, khai thác mủ cao su từ tháng 4/2021 đến nay. Mặt khác, anh S đã trả cho bà T, ông T1 số tiền 2.000.000.000 đồng (hơn hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch). Do đó, việc bà T, ông T1 cho rằng ông, bà không vi phạm hợp đồng chuyển nhượng mà anh S khởi kiện và yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không có căn cứ chấp nhận.

Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn S đối với bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bà Lê Thị T kháng cáo nhưng không xuất trình được chứng cứ mới, nên không có cơ sở chấp nhận.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, nên chấp nhận.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Lê Thị T nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

6

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

  1. Căn cứ vào các Điều 129, 500, 501 Bộ luật Dân sự; Điều 147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn S đối với bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Trương Văn S và bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1 lập ngày 09/11/2020. Anh Trương Văn S có quyền sử dụng 02 phần đất gồm:

  • + Phần đất thứ nhất: Diện tích đất 1245,7m² (trong đó: Đất thổ cư 200m², đất vườn 1045,7m²) và 55 cây cao su, 02 cây xoài trồng trên đất; thửa đất số 24, tờ bản đồ số 16B cũ, tương ứng một phần thửa 127 tờ bản đồ số 39 mới; tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận:
  • - Hướng Đông giáp đất bà T, ông T1, dài 136,08m;
  • - Hướng Tây giáp đất Dững và đất bà T, ông T1 chuyển nhượng cho anh S, dài (54,82 + 81,35) 136,17m;
  • - Hướng Nam giáp đất bà X dài 9m;
  • - Hướng Bắc giáp đường DT 795, dài 9m.
  • + Phần đất thứ hai: Diện tích đất 5335,8m², đất trồng cây lâu năm (CLN) và 325 cây cao su trồng trên đất; thửa đất số 308, tờ bản đồ số 53 cũ, tương ứng một phần thửa 127 tờ bản đồ số 39 mới; tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận:
  • - Hướng Đông giáp đất bà T, ông T1 (chuyển nhượng cho ông S) và đất bà X, bà T2, dài (81,35 + 55,43 + 74,48) 211,26m;
  • - Hướng Tây giáp đất ông Đ1 (thửa 128), dài (77,83 + 136,09) 213,92m;
  • - Hướng Nam giáp đất bà T2 dài 25,09m;
  • - Hướng Bắc giáp đất bà V, ông D, dài (10 + 7 + 8,14) 25,14m.

Anh Trương Văn S có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 phần đất trên.

(Kèm theo Bản án là Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất số: 70/2024/SĐHT-CTY của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên V1)

2.2. Ghi nhận anh Trương Văn S có nghĩa vụ thanh toán tiếp cho bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1 số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng).

7

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
  2. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1 có trách nhiệm hoàn trả cho anh Trương Văn S tiền chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 36.000.000 đồng (ba mươi sáu triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu trả số tiền trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  1. Về án phí:

5.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trương Văn S phải chịu 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004714 ngày 31/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Anh Trương Văn S còn phải nộp 19.700.000 đồng (mười chín triệu bảy trăm nghìn đồng).

- Bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1 phải chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (trong đó 300.000 đồng án phí chấp nhận yêu cầu chuyển nhượng và 300.000 đồng án phí không chấp nhận yêu cầu phản tố). Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004563 ngày 24/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1 còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

5.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005095 ngày 21/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (Đã nộp xong).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND.TTN;
  • - TAND. H.TBiên;
  • - Chi cục THADS. H.TBiên;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án DSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

8

Phạm Văn Diệp

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 403/2024/DS-PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 403/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger