|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG Bản án số: 403/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06 – 12–2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân và ông Nguyễn Thế Hùng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 288/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1080/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1101/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 2001; địa chỉ: Số nhà A, khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1990; địa chỉ: Số nhà A, khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang.
Bà Phạm Thị Ngọc H vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Phạm Văn T vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của bà Phạm Thị Ngọc H; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phạm Văn T tự tìm hiểu, sau đó tiến đến hôn nhân vào năm 2021. Cả hai có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 16 ngày 08/02/2021. Quá trình chung sống, bà H và ông T chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do ông T không chăm lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, rượu chè. Bà H và gia đình nhiều lần khuyên can nhưng ông T không thay đổi. Bà H đã khởi kiện ly hôn ông T vào tháng 08/2024 và đã được Tòa án động viên, hòa giải. Do muốn cho ông T một cơ hội nên bà H đã rút lại yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, ông T vẫn không thay đổi và bỏ nhà đi từ tháng 09/2024 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Có 01 con chung tên: Phạm Gia B, sinh ngày 30/3/2021. Hiện cháu B đang sống với bà H. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Nguyên nhân của việc bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là do ông T không có nghề nghiệp, ít quan tâm chăm sóc con cái.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông Phạm Văn T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 01/11/2024 nhưng ông T vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T, ông T cũng không cung cấp văn bản ghi nhận ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà H và các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Về tài liệu, chứng cứ:
Các tài liệu, chứng cứ do bà Phạm Thị Ngọc H giao nộp: Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 16 ngày 08/02/2021 của UBND xã Đ (bản chính); Bản tự khai của bà Phạm Thị Ngọc H (bản chính); Căn cước công dân mang tên Phạm Thị Ngọc H (bản photo); Căn cước công dân mang tên Phạm Văn T (bản photo); Giấy khai sinh Phạm Gia B (bản sao).
Các tài liệu, chứng cứ do ông Phạm Văn T giao nộp: Không.
Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản ghi nhận ý kiến người làm chứng, xác nhận thông tin về nơi cư trú của Công an xã Đ ngày 08/7/2024.
Tại phiên tòa, do bà H và ông T đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Theo xác nhận thông tin về nơi cư trú của Công an thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang: Ông Phạm Văn T, sinh ngày 01/01/1990 có nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang.
Theo biên bản ghi lời khai người làm chứng ngày 01/11/2024, ông Phạm Văn L cho biết: Sau khi kết hôn thì bà H và ông T chung sống cùng gia đình ông L. Thời gian đầu thì bà H và ông T chung sống hạnh phúc. Đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn đúng như lời trình bày của bà H. Ông L đã nhiều lần hòa giải, hàn gắn cho cả hai nhưng không thể hàn gắn. Ông T bỏ nhà đi từ tháng 09/2024 cho đến nay. Ông L có yêu cầu Tòa án sớm giải quyết cho bà H và ông T được ly hôn. Về con chung: Có 01 con chung là cháu Phạm Gia B, sinh ngày 30/3/2021. Hiện cháu B đang sống với bà H và gia đình ông L. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị Ngọc H; về con chung, đề nghị giao con chung tên Phạm Gia B, sinh ngày 30/3/2021 cho bà H được nuôi dưỡng và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con; bà H khai không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn ông Phạm Văn T đều vắng mặt không rõ lý do; đồng thời ông T đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Như vậy, ông T đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Bà Phạm Thị Ngọc H có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử. Do đó, vụ án được xem không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Ông Phạm Văn T có nơi thường trú tại: Khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Quá trình chung sống, bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phạm Văn T phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Bà H và ông T đã sống ly thân nhau từ tháng 09/2024 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Gia đình cũng đã động viên, hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phạm Văn T có 01 con chung tên: Phạm Gia B, sinh ngày 30/3/2021. Con chung hiện đang sống cùng bà H. Sau khi xem xét yêu cầu của bà H. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận để bà H được tiếp tục nuôi dạy con chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho bà H về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng bà H vẫn giữ nguyên ý kiến của mình về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Ông Phạm Văn T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Phạm Thị Ngọc H. Ngược lại, bà H cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Ngọc H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên nếu sau này ông T có yêu cầu về tài sản chung thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
[4] Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Bà Phạm Thị Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông Phạm Văn T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phạm Văn T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; các điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc H được ly hôn với ông Phạm Văn T.
-
Về con chung: Bà Phạm Thị Ngọc H được trực tiếp nuôi dạy con chung tên: Phạm Gia B, sinh ngày 30/3/2021. Ông Phạm Văn T không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.
Ông Phạm Văn T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Phạm Thị Ngọc H. Ngược lại, bà H cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
-
Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị Ngọc H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010033 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Ông Phạm Văn T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phạm Văn T. Bà H và ông T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Tuân |
Bản án số 403/2024/HNGĐ-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 403/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phạm Văn T tự tìm hiểu, sau đó tiến đến hôn nhân vào năm 2021. Cả hai có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 16 ngày 08/02/2021. Quá trình chung sống, bà H và ông T chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do ông T không chăm lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, rượu chè. Bà H và gia đình nhiều lần khuyên can nhưng ông T không thay đổi. Bà H đã khởi kiện ly hôn ông T vào tháng 08/2024 và đã được Tòa án động viên, hòa giải. Do muốn cho ông T một cơ hội nên bà H đã rút lại yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, ông T vẫn không thay đổi và bỏ nhà đi từ tháng 09/2024 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T. Về con chung: Có 01 con chung tên: Phạm Gia B, sinh ngày 30/3/2021. Hiện cháu B đang sống với bà H. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Nguyên nhân của việc bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là do ông T không có nghề nghiệp, ít quan tâm chăm sóc con cái. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
