Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HAI BÀ TRƯNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 403/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27 – 6 - 2025

Về việc: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Minh Hoàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Huyền Nga

2. Bà Huỳnh Thị Thanh Hà

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thị Bích Phương – Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đỗ Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 276/2025/TLST-HNGĐ ngày 25/4/2025 về việc: Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2025/QÐST-HPT ngày 09/6/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đào Kiều T, sinh năm 1997; ĐKHKTT và nơi ở: Tổ G Chùa H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ở: Số D tổ B đường C, phường L, quận L, thành phố Hà Nội (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1996; ĐKHKTT: Tổ 23 Định Công, H, Hà Nội; Nơi ở: Số A ngách C D, phường V, quận H, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Đào Kiều T trình bày:

Chị Đào Kiều T và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 22/4/2019 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Giấy chứng nhận kết hôn số 29).

Sau khi kết hôn, vợ chồng chị T, anh T1 cùng chung sống với bố mẹ chồng tại địa chỉ: Số A ngách C D, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Anh chị chung sống được một khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không phù hợp tính cách, khác biệt quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Từ đó vợ chồng sống lạnh nhạt không có tình cảm, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân. Khi mâu thuẫn xảy ra, gia đình hai bên có nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn trở nên trầm trọng nhất vào khoảng năm 2023, anh chị ly thân, chị T mang con chuyển ra ngoài sinh sống. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên sau một thời gian suy nghĩ kỹ, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh T1.

- Về con chung: Chị T xác nhận chị và anh Nguyễn Văn T1 có 01 (một) con chung là Nguyễn Đào Linh A, sinh ngày 01/7/2019. Hiện sức khỏe của con chung bình thường, phát triển tốt, đang sống cùng chị T. Ly hôn, chị T đề nghị Tòa án cho chị được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị yêu cầu anh Nguyễn Văn T1 đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 2.500.000 đồng/tháng kể từ tháng 6 năm 2025. Hiện nay chị đang làm công việc là nhân viên bán hàng của Công ty Cổ phần M, thu nhập bình quân khoảng 08 (T2) triệu đồng/tháng, bao gồm cả lương và thưởng. Chị có nơi ở ổn định tại địa chỉ: Số D tổ B đường C, phường L, quận L, thành phố Hà Nội. Đây là căn nhà chị thuê của ông Lưu Văn T3 và bà Nguyễn Thị T4 để sinh sống, theo Hợp đồng thuê nhà ngày 14/4/2023. Chị có thu nhập và nơi ở ổn định, đủ điều kiện để nuôi con.

- Về tài sản chung và nhà ở: Chị T xác nhận chị và anh Nguyễn Văn T1 không có tài sản chung và nhà ở chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về vay nợ chung: Chị T xác nhận chị và anh Nguyễn Văn T1 không có vay nợ chung của ai, không cho ai vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị T tự nguyện chịu toàn bộ án phí giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên toà hôm nay, chị Đào Kiều T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên chị T không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng do anh T1 không có công việc và thu nhập ổn định. Anh T1 vắng mặt không có lý do.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết công khai hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo triệu tập đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 để anh T1 biết những vấn đề cụ thể mà chị Đào Kiều T yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời triệu tập anh T1 đến Tòa án để thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn. Tuy nhiên, anh T1 không có mặt theo thông báo triệu tập của Tòa án để làm bản tự khai, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị T, không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ, không chứng minh để tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, không đưa ra yêu cầu phản tố. Tiếp theo, Tòa án đã tống đạt, niêm yết công khai hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh T1 không tham gia phiên họp. Sau đó, Tòa án đã tống đạt, niêm yết công khai hợp lệ Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

  • + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • + Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • + Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 175; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • + Thực hiện nguyên tắc hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo khoản 1 Điều 205; khoản 2 Điều 207; khoản 2 Điều 208; Điều 209; Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và khoản 4 Điều 3 Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội nước CHXHCNVN.
  • + Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220; điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo qui định tại Điều 63; Điều 227; 228 và chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 199; Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

* Về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 22/4/2019 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn từ khoảng năm 2023, nguyên nhân chủ yếu do hai bên không có sự đồng cảm, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T. Về con: Anh chị có 01 (một) con chung là Nguyễn Đào Linh A, sinh ngày 01/7/2019. Hiện tại con chung đang ở với chị T, ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Xét thấy chị T có thu nhập và nơi ở ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh T1 đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng nên không xét. Về tài sản chung, nhà ở và công nợ chung: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không xét. Về án phí: Chị T là nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là Nguyễn Văn T1 hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Số A, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 09/6/2025, anh T1 vắng mặt, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa và mở lại phiên tòa vào ngày 27/6/2025. Tại phiên tòa hôm nay, anh T1 vẫn tiếp tục vắng mặt không lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T1.

[2]. Về nội dung:

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T1 thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Kiều T và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 22/4/2019 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2023, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do tính cách và lối sống quá khác biệt nên giữa hai bên thường nảy sinh bất đồng, vợ chồng không có sự đồng cảm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống.

Tòa án tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Quá trình anh chị chung sống không thể hiện mâu thuẫn ra bên ngoài nên Tổ dân phố không nắm được, chỉ biết rằng chị Đào Kiều T và con không sống cùng chồng và bố mẹ chồng đã vài năm nay, chỉ thỉnh thoảng có thấy chị T đưa con về nhờ ông bà nội của cháu (là bố mẹ đẻ anh T1) trông. Nay chị T xin ly hôn với anh T1, chính quyền địa phương không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện để anh chị có cuộc sống mới yên ổn. Vợ chồng anh chị có một con chung là Nguyễn Đào Linh A, sinh năm 2019. Khi anh chị ly hôn, tổ dân phố không có ý kiến gì về việc giao cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển tốt nhất cho trẻ. Về tài sản chung, nhà ở và các khoản vay nợ anh chị không có thông báo với tổ dân phố nên tổ dân phố không nắm bắt được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án tiến hành ghi ý kiến của gia đình, bà Nguyễn Thị Minh H là mẹ đẻ của anh T1 cho biết: Chị Đào Kiều T và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng kí kết hôn năm 2019. Sau khi kết hôn, anh T1 chị T chung sống cùng vợ chồng bà (bố mẹ đẻ anh T1) tại địa chỉ Số A ngách C D, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống thời gian đầu anh chị sống bình thường hạnh phúc, tuy nhiên khoảng 02 năm gần đây chị T cùng con chung là Đào Linh A chuyển ra ngoài sinh sống, anh chị hiện đã ly thân. Nay chị T xin ly hôn với anh T1, quan điểm của bà là đồng ý, tạo điều kiện cho chị được ly hôn, để anh chị sớm ổn định cuộc sống. Về con chung: Anh T1 và chị T có 01 con chung là Nguyễn Đào Linh A, sinh ngày 01/7/2019. Nếu anh chị ly hôn, quan điểm của bà là đồng ý để chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung, vì cháu còn nhỏ lại là con gái, nên ở với mẹ sẽ tốt hơn cho sự phát triển của con. Đối với tài sản chung, nhà ở và vay nợ của anh chị: Bà H không nắm được.

Xét thấy: Chị T và anh T1 đã ly thân từ năm 2023 đến nay, không thực hiện các nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình là thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Như vậy, có đủ cơ sở cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, giải quyết cho chị T được ly hôn anh T1 là phù hợp.

Về con chung: Chị Đào Kiều T và anh Nguyễn Văn T1 có 01 (một) con chung là Nguyễn Đào Linh A, sinh ngày 01/7/2019. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Hiện chị T đang làm công việc là nhân viên bán hàng của Công ty Cổ phần M, thu nhập bình quân khoảng 08 (Tám) triệu đồng/tháng, bao gồm cả lương và thưởng. Chị có nơi ở ổn định, hiện đang thuê nhà tại địa chỉ: Số D tổ B đường C, phường L, quận L, thành phố Hà Nội. Xét thấy, kể từ khi anh chị ly thân, chị T vẫn một mình nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ con tốt, con chung là con gái, hiện còn nhỏ, cần có sự quan tâm chăm sóc của người mẹ; chị T có thu nhập và chỗ ở ổn định, đảm bảo điều kiện nuôi con. Vì vậy, căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án giao con chung Nguyễn Đào Linh A cho chị T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác, là phù hợp quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của đương sự và bảo đảm được quyền lợi về mọi mặt của trẻ. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu anh T1 đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng do anh T1 không có công việc và thu nhập ổn định nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ về tài sản chung đối với anh T1. Tuy nhiên, anh T1 cũng không cung cấp cho Tòa án ý kiến về việc tài sản chung nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác cho chị T, anh T1 khi có yêu cầu.

Về khoản vay nợ: Chị T xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ về khoản vay nợ đối với anh T1. Tuy nhiên, anh T1 cũng không cung cấp cho Tòa án ý kiến về khoản vay nợ nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác cho chị T, anh T1 khi có yêu cầu.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị T chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Đào Kiều T đối với anh Nguyễn Văn T1.

    Chị Đào Kiều T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.

  2. Về con chung: Chị Đào Kiều T và anh Nguyễn Văn T1 có 01 (một) con chung là Nguyễn Đào Linh A, sinh ngày 01/7/2019. Giao con chung cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng của anh Nguyễn Văn T1 cho đến khi có sự thay đổi khác của pháp luật.

    Anh Nguyễn Văn T1 có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị Đào Kiều T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi chị Đào Kiều T, anh Nguyễn Văn T1 có yêu cầu.
  4. Về khoản vay nợ: Chị Đào Kiều T xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi chị Đào Kiều T, anh Nguyễn Văn T1 có yêu cầu.
  5. Về án phí: Chị Đào Kiều T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0024913 ngày 25/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Án xử sơ thẩm công khai. Chị Đào Kiều T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hai Bà Trưng;
  • - Chi cục THADS quận Hai Bà Trưng;
  • - UBND nơi thực hiện ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đồng Minh Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 403/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 403/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger