Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 403/2025/DS-PT

Ngày 18-12-2025

V/v tranh chấp hợp đồng

vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông K'Tiêng

Các Thẩm phán tham gia: Ông Nguyễn Thế Hạnh và ông Dương Hà Ngân

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Nga, là Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 403/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”,

Do Bản án số 26/2025/DS-ST ngày 17-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 567/2025/QĐXXPT-DS ngày 14-11-2025, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 623/TB-TA ngày 25-11-2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 428/2025/QĐ-PT ngày 08-12-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đối với các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đắc L, sinh năm 1970

    Địa chỉ: Tổ dân phố B N, phường B, tỉnh Lâm Đồng (địa chỉ cũ: TDP B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970

    Địa chỉ: Tổ dân phố C N, phường N, tỉnh Lâm Đồng (địa chỉ cũ: TDP C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) – có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Xuân H, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ dân phố C N, phường N, tỉnh Lâm Đồng (địa chỉ cũ: TDP C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  4. Người làm chứng: Bà Đặng Kim H1, sinh năm 1969

    Địa chỉ: TDP A N, phường B, tỉnh Lâm Đồng (địa chỉ cũ: Tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

  1. Theo đơn khởi kiện ngày 12/11/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Đắc L trình bày:

    Ngày 09/6/2022 và ngày 20/6/2022, ông L chuyển khoản cho bà Nguyễn Thị T vay số tiền 500.000.000 đồng; hai bên thỏa thuận miệng thời hạn vay 03 tháng, lãi suất 1,66%/ 01 tháng. Ông đã yêu cầu nhiều lần nhưng đến nay bà T mới chỉ trả cho ông 284.000.000 đồng tiền gốc, do đó ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T và ông H (chồng bà T) trả số tiền gốc và lãi còn nợ là 606.000.000 đồng (có bảng kê tiền gốc, lãi kèm theo).

    Đối với số tiền 110.000.000 đồng bà T cho rằng đã chuyển khoản cho bà Đặng Kim H1 để trả nợ giùm cho ông L, ông không biết về số tiền này, ông không có quan hệ vay mượn với bà H1.

  2. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

    Bà thừa nhận vay của ông L số tiền 500.000.000 đồng (trong đó chuyển khoản 400.000.000 đồng, tiền mặt 100.000.000 đồng). Hai bên có thỏa thuận lãi suất nhưng không rõ bao nhiêu phần trăm.

    Hiện tại, bà đã trả cho ông L tổng số tiền 615.000.000 đồng gồm tiền gốc và lãi, trong đó chuyển khoản 454.000.000 đồng (có bảng sao kê ngân hàng) và đưa 04 lần tiền mặt là 161.000.000 đồng. Các lần đưa tiền mặt cụ thể: lần 01 đưa 36.000.000 đồng tại quán C bên cạnh Ngân hàng N; lần 02 đưa 35.000.000 đồng tại quán C; lần 03 đưa số tiền 20.000.000 đồng tại quán C (có bà Nguyễn Thị L1 làm chứng) và lần 04 đưa thẻ ATM nhờ bà Lê Thị M rút tiền trả cho ông L 70.000.000 đồng.

    Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

    Ngoài ra, ngày 11-11-2022, bà đã chuyển khoản trả giùm cho ông L 110.000.000 đồng ông L mượn của bà Đặng Kim H1, đề nghị Tòa án xem xét số tiền này.

  3. Quá trình giải quyết vụ án, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Xuân H trình bày: Ông là chồng của bà T. Ông không biết việc bà T vay tiền của ông L; bà T vay không sử dụng vào chi tiêu sinh hoạt trong gia đình. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

  4. Người làm chứng bà Đặng Kim H1 trình bày: Năm 2022, bà T dẫn ông L tới gặp bà H1 để vay tiền. Do tin tưởng bà T là bạn nên bà cho ông L vay 110.000.000đ, đưa tiền mặt tại quán cafe T1. Bà nói bà T phải có trách nhiệm trả 110.000.000đ, vì bà H1 không biết ông L. Cuối năm 2022, bà T đã chuyển khoản trả thay cho ông L số tiền này.

  5. Người làm chứng bà Lê Thị M trình bày: Đầu năm 2023, bà T có nhờ bà cầm thẻ ATM đến Ngân hàng S (số tài khoản 050078670611) rút 70.000.000 đồng về trả cho ông L. Tại quán C bà thấy bà T đưa cho ông L 70.000.000 đồng, sau đó bà đi về và không biết các sự việc sau đó.

  6. Người làm chứng bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Trong năm 2022, khi ngồi uống nước tại quán C, bà thấy bà T đưa cho ông L hai lần tiền mặt, mỗi lần 10.000.000 đồng, việc ông L đưa tiền cho bà T vay thì bà không thấy.

Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 17-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 đã căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 160, Điều 161, khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 463, Điều 466 và điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đắc L.

Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Phan Xuân H phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Đắc L tổng số tiền là 204.602.650 đồng, trong đó số tiền gốc là 85.500.000 đồng và tiền lãi suất là 119.102.650 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đắc L buộc bà Nguyễn Thị T và ông Phan Xuân H phải trả số tiền 401.397.350 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, lãi chậm thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 27-9-2025, bà T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại số tiền 110.000.000đ bà T đã trả nợ thay cho ông L và số tiền nợ gốc, lãi phải trả cho ông L. Ngày 13-11-2025, bà T rút một phần kháng cáo về yêu cầu xem xét lại tiền gốc và lãi, chỉ kháng cáo đối với số tiền 110.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đối với số tiền 110.000.000 đồng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng sau khi phân tích các tình tiết, phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Bị đơn thực hiện trong thời hạn luật định. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục theo Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 17-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lâm Đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông L về việc buộc ông Phan Xuân H phải liên đới với bà Nguyễn Thị T trả nợ cho ông L. Xét thấy tại phiên tòa sơ thẩm ông L mới đưa ra yêu cầu này là vượt quá yêu cầu khởi kiện; bên cạnh đó, cả bà T và ông H đều trình bày ông H không biết, không liên quan, không sử dụng số tiền bà T vay mượn, do đó cấp sơ thẩm tuyên buộc ông H phải trả nợ cho ông L là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận, đối chiếu quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1]. Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 273, 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu kháng cáo:

[2.1]. Mặc dù có trình bày khác nhau về cách thức giao tiền, nhưng cả bà T và ông L đều thừa nhận, ngày 09/6/2022 và ngày 20/6/2022, bà T vay của ông L số tiền 500.000.000 đồng, có thỏa thuận lãi suất. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Tòa án sơ thẩm buộc bà phải trả số tiền còn nợ là đúng quy định theo Điều 466 Bộ luật Dân sự.

[2.2]. Xét kháng cáo của bà T đề nghị xem xét lại số tiền 110.000.000đ, Hội đồng xét xử xét thấy:

Quá trình giải quyết vụ án, bà T cho rằng ngày 11/11/2022 bà đã chuyển khoản trả giúp cho ông L số tiền 110.000.000 đồng ông L vay của bà H1. Bà xuất trình chứng cứ là sao kê ngân hàng thể hiện nội dung chuyển khoản: T chuyển giùm Đắc L, khách hàng nhận Đặng Kim H1 (bút lục 39); lời khai của bà H1 cũng thừa nhận có việc bà T dẫn ông L đến vay tiền và bà T trả nợ giùm ông L sau đó. Tuy nhiên, ông L không thừa nhận nội dung này. Xét thấy, chứng cứ bà T đưa ra chỉ từ một phía, không có cơ sở vững chắc (bà T chỉ cung cấp sao kê chuyển khoản, không có tài liệu khác thể hiện việc vay tiền, trả tiền); ông L không thừa nhận và khoản tiền bà T trả nợ thay cho ông L không liên quan đến khoản nợ trong vụ án này. Mặt khác, tại giai đoạn xét xử sơ thẩm bà T không có yêu cầu phản tố bù trừ nghĩa vụ đối với số tiền 110.000.000 đồng, do đó cấp phúc thẩm không có căn cứ xem xét kháng cáo. Bà T có quyền khởi kiện yêu cầu ông L trả lại số tiền 110.000.000 đồng bằng một vụ án khác.

[2.3]. Đối với đơn xin rút một phần kháng cáo về việc xem xét lại số tiền gốc và lãi bà T phải trả cho ông L, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

[2.4]. Kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh về sai sót của Tòa sơ thẩm trong việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L đối với việc buộc ông H phải liên đới với bà T trả nợ là có căn cứ. Ông H không kháng cáo nội dung này, do đó không có căn cứ để sửa bản án sơ thẩm, tuy nhiên cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm để đảm bảo quyền lợi của các đương sự.

[3]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào tạm ứng đã nộp.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308; điểm c khoản 1 Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 17-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lâm Đồng.

Áp dụng các Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đắc L.
    1. Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Phan Xuân H phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Đắc L tổng số tiền 204.602.650đ (hai trăm lẻ bốn triệu, sáu trăm lẻ hai nghìn, sáu trăm năm mươi đồng), trong đó gồm 85.500.000 đồng tiền gốc và 119.102.650 đồng tiền lãi.

      Kể từ ngày ông Nguyễn Đắc L có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, hàng tháng bà Nguyễn Thị T và ông Phan Xuân H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ.

    2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đắc L về việc buộc bà Nguyễn Thị T và ông Phan Xuân H phải trả số tiền 401.397.350 (bốn trăm lẻ một triệu, ba trăm chín bảy nghìn, ba trăm năm mươi đồng).
  2. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T về việc xem xét lại số tiền gốc và lãi bà Nguyễn Thị T phải trả cho ông Nguyễn Đắc L.
  3. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:

      Buộc ông Nguyễn Đắc L phải chịu 20.055.894 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.146.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007464 ngày 12/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông (cũ). Ông Nguyễn Đắc L còn phải nộp số tiền 2.909.894₫ (hai triệu chín trăm lẻ chín nghìn, tám trăm chín tư đồng).

      - Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Phan Xuân H phải chịu 10.230.132đ (mười triệu hai trăm ba mươi nghìn, một trăm ba hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    2. Án phí dân sự phúc thẩm:

      Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005177 ngày 15/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND khu vực 6;
  • - THADS khu vực 6;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: THCTP, Tòa DS, HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

K'Tiêng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 403/2025/DS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 403/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger