Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 403/2025/DS-PT

Ngày: 04-06-2025

V/v: “Tranh chấp thừa kế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hoàng

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hà;

Ông Lê Thanh Bình.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thùy Trang – Thư ký TAND Thành phố Hà Nội.

- Đại diện VKSND Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị N - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30/5/2025 đến ngày 04/6/2025, tại trụ sở TAND Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2024/TLPT-DS ngày 10/10/2024 về “Tranh chấp thừa kế”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 25/7/2024 của TAND huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 576/2024/QĐXX-PT ngày 20/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa; Thông báo mở lại phiên tòa của TAND Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự :

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện T, Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Xuân B, sinh năm 182. Địa chỉ: Số F ngách B, tổ G, phường P, quận L, Hà Nội. Có mặt.
  2. Bị đơn:
    1. Ông Lê Văn P, sinh năm 1963. Có mặt;
    2. Ông Lê Văn N1, sinh năm 1955. Vắng mặt;
    3. Ông Lê Văn H sinh năm 1957. Có mặt;

    Đều trú tại: Thôn H, xã K, huyện T, Hà Nội.

    Đại diện theo ủy quyền của ông P là: Văn phòng Luật sư Phương L. Địa chỉ: P CT1B2 Khu đô thị X, phường P, quận H, Hà Nội. Do bà Vũ Thị Phương L là đại diện theo pháp luật của Văn phòng L3 tham gia tố tụng theo ủy quyền. Có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Lê Thị N2, sinh năm 1950. Trú tại: Thôn H, Xã K, huyện T, Hà Nội. Vắng mặt.
    2. Bà Trần Thị O (tức Trần Thị U); anh Lê Văn C. Có mặt.
    3. Bà Vũ Thị L, sinh năm 1957 và các anh chị Lê Văn N3, sinh năm 1985; Bùi Thị V, sinh năm 1990; Lê Văn N4, sinh năm 1992. Vắng mặt.

    Đều trú tại: Thôn H, xã K, huyện T, Hà Nội.

    1. Bà Hoàng Thị Đ,đã chết; Người thừa kế của bà Đ đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Ông Lê Văn H và các anh chị Lê Anh Đ1, sinh năm 1987; Lê Thị S, sinh năm 1999; Lê Hoàng H1, sinh năm 1991. Đều Trú tại: Thôn H, xã K, huyện T, Hà Nội. Có mặt ông H; Vắng mặt các anh chị: Đ1, S, H1.
  4. Người kháng cáo:
    1. Bà Lê Thị T là nguyên đơn. Có mặt;
    2. Ông Lê Văn P là bị đơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án, tại cấp sơ thẩm:

  1. Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

    Bố mẹ đẻ bà T là cụ Lê Văn Q đã chết năm 1982 và cụ Trần Thị N5 đã chết năm 2016 có 05 người con đẻ: 1. Bà Lê Thị N2; 2. Ông Lê Văn N1; 3. Ông Lê Văn H; 4. Bà Lê Thị T, sinh năm 1960; 5. Ông Lê Văn P.

    Trước khi chết hai cụ có các khối tài sản gồm:

    • Thửa đất số 31, tờ bản đồ 02; diện tích 752 m² đất ở, trên đất có một ngôi nhà cấp 4 (Sau đây viết tắt là nhà đất thửa đất số 31);
    • Thửa đất số 34, tờ bản đồ 03; diện tích 820m² đất ở (Sau đây viết tắt là thửa đất số 34);
    • Thửa đất số 37, tờ bản đồ 03; diện tích 416m² đất ở (Sau đây viết tắt là thửa đất số 37).

    Cả 03 thửa đất nêu trên đều có địa chỉ tại: Thôn H, xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội.

    Khi còn sống cụ Q đã chia cho các con phần đất để sử dụng lâu dài cụ thể như sau:

    • Nhà đất thửa đất số 31 chia cho ông N1 sử dụng.
    • Thửa đất số 34 chia cho ông P được sử dụng 420 m²; ông H được chia 400 m².
    • Thửa đất số 37 chia cho bà T sử dụng.

    Ngày 23/8/1998 cụ N5 đã triệu tập tất cả các con lại để họp và lập “Biên bản phân chia đất đai cho các con”. Có nội dung phân chia đất theo như hiện trạng trước đây cụ Q đã phân chia và cụ N5 vẫn hưởng hoa lợi trên 03 thửa đất cho đến khi qua đời, cụ thể là:

    • Khu đất số 31 chia cho ông N1 sử dụng;
    • Thửa đất số 34 chia cho ông H được sử dụng 400 m², ông P được sử dụng 420m² và 01 ngôi nhà cấp 4 năm gian.
    • Thửa đất số 37 chia cho bà T và thực tế bà T đã làm 02 gian nhà cấp 4 để ở từ năm 1985.

    Biên bản họp gia đình đã được mọi thành viên trong gia đình thông qua. Thửa đất của bà T được chia trước đây là một thùng ao ruộng cho nên bà phải gánh đất ngày đêm để san lấp. Cụ N5 ở với bà T đến năm 2008 và mọi người đều hòa thuận. Ngày 22/9/2005 cụ N5 triệu tập tất cả các con để lập di chúc rõ ràng, cụ thể cho các con thực hiện sau khi cụ chết. Nội dung biên bản ngày 22/9/2005 có nội dung đúng như đúng như biên bản ngày 23/8/1998. Các thành viên trong gia đình không ai có ý kiến khác, đã được UBND xã K xác nhận.

    Đến cuối năm 2005, đầu năm 2006 Nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( Sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) cho các hộ gia đình có đủ điều kiện. Cụ N5 nói với bà N2 “Bây giờ tao còn sống tao phải làm sổ đỏ cho nó nếu không sau khi tao chết không ai làm cho nó được”. Được sự đồng ý của tất cả các thành viên trong gia đình, cụ N5 đã gọi ông H đang công tác ở Thái Nguyên về để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho bà T. Cụ N5 và ông H đã đến gặp ông Trần T1 (người giúp việc trong thôn) nhờ làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho bà T. Thủ tục cấp GCNQSDĐ được công khai tại Đình làng và trên loa truyền thanh của xã K. Sau đó không ai ý kiến gì thì UBND xã K đã trình UBND huyện T duyệt và đến ngày 27/12/2007 UBND huyện T đã cấp GCNQSDĐ cho bà T đối với thửa đất số 37. Đến năm 2009 UBND huyện T thu hồi lại GCNQSDĐ của bà T vì lý do ông P, ông N1 có đơn đề nghị hủy bỏ GCNQSDĐ của bà T. Sau khi UBND huyện thu hồi GCNQSDĐ thì đến năm 2012 ông P tranh chấp thửa đất bà T đang quản lý, sử dụng rồi xây nhà trên đất và chặn lối đi ra của bà. Gia đình ông P đã nhiều lần lăng mạ, xúc phạm, chửi bới bà. Nên bà gửi đơn đề nghị Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế cho bà T.

    Bà T nghị: Tuyên bố bản di chúc do cụ N5 lập ngày 22/3/2009 được chứng thực ngày 19/01/2010 là vô hiệu. T2 cho bà T được thừa hưởng 416m² đất mà bố mẹ bà để lại và đề nghị buộc ông P phải thanh toán phần đất mà ông P đã làm nhà trên đất của bà T.

  2. Bị đơn
    1. Ông Lê Văn P trình bày: Đề nghị tòa án xem xét giải quyết theo pháp luật và công nhận phần đất và tài sản trên đất của ông tại thửa đất số 37 theo như di chúc của cụ Trần Thị N5 đã để lại cho ông.
    2. Ông Lê Văn N1 trình bày: Tại thửa đất số 37 đang tranh chấp thì từ chỗ ông P làm cổng, nhà thì để ông P quản lý, sử dụng còn phần còn lại thì để bà T sử dụng, anh em trong nhà nên ngồi lại và hòa giải với nhau. Ông đồng ý với quan điểm của bà N2. Đối với những thửa đất hiện ông (Nhớn), ông P, ông H đang quản lý, sử dụng thì giữ nguyên như hiện trạng và ai đã sử dụng thì tiếp tục sử dụng ;
    3. Ông Lê Văn H trình bày: Ông đồng ý với ý kiến của ông N1 và bà N2. Giữ nguyên các thửa đất hiện ông N1, ông (H) và ông P đã và đang quản lý, sử dụng; Còn riêng thửa đất số 37, hiện đang tranh chấp thì đề nghị Tòa xem xét giải quyết quyền lợi cho bà T theo quy định của pháp luật.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà O (Vợ ông P) trình bày: Không đồng ý với việc hòa giải và đồng ý với ý kiến của ông P. Đề nghị Tòa giải quyết theo pháp luật và theo di chúc của cụ N5 đã để lại tài sản cho ông P.
    2. Bà Lê Thị N2 trình bày : Theo bà thì trước đây bố bà đã cho thế nào thì giữ nguyên như thế. Hiện nay ông P đã làm nhà trên thửa đất trước đây bố bà giao cho bà T thì nên giữ nguyên, cho ông P tiếp tục sử dụng phần ông P đã xây dựng nhà, ông P xây dựng đến đâu thì giữ nguyên đến đó; P1 còn lại thì giao cho bà T sử dụng và nên hòa giải để anh em hòa thuận. Còn phần của bà nếu được chia thì bà giao lại cho ông N1 và không có ý kiến gì.

* Biên bản họp gia đình (Bản di chúc quyền sử dụng đất ở) ngày 23/8/1998. Thành phần gồm; Cụ N5 và các ông bà: Nhớn, H, T, P.

Nội dung: Phân chia định giới quyền sử dụng đất ở cho các thành viên trong gia đình. Cụ N5 định giới quyền sử dụng đất ở cho các con như sau:

  • Lê Văn N1: trưởng nam được quyền sử dụng toàn bộ khu đất ở độc lập.
  • Lê Văn H: được quyền sử dụng khu đất ở liền với Lê Văn P, có định giới như sau: Cách tường hậu nhà anh H 0,5m, chạy đường thẳng từ tường bao giáp vườn anh Lê Văn K định giới đã được đặt mốc bằng 02 tường bao.
  • Lê Thị T được sử dụng toàn bộ khu đất độc lập đến khi chị T trăm năm có quyền giao cho bất kỳ ai.
  • Lê Văn P được sử dụng khu đất ở liền với Lê Văn H (phần còn lại).

* Nội dung bản di chúc ngày 22/9/2005 của cụ N5 (có xác nhận của UBND xã):

Ngày 22/9/2005 tại nhà cụ N5 tổ chức cuộc họp các con trai, con gái trong gia đình gồm có: Cụ N5 và các ông bà: Nhớn, H, T, P. Dựa trên cơ sở thực tế biên bản cuộc họp gia đình ngày 23/8/1998.

Về phân chia tài sản cho các con không thay đổi. Họp cùng các con để thống nhất viết lại bản di chúc cho cụ thể rõ ràng hơn so với bản cũ. Nội dung cụ thể của bản di chúc lập hôm nay không có gì thay đổi so với bản cũ mà cụ thể về diện tích để thuận lợi cho các con của bà sau này. Quyền thừa kế sở hữu đất của các con được chia như sau:

  • Khu đất ở độc lập cụm dân cư xóm B, số thửa 31, diện tích 720 m², có một ngôi nhà cấp 4 bốn gian; khu đất này chia cho anh N1 được sở hữu và đã được Nhà nước cấp sổ đỏ.
  • Khu đất cụm dân cư trong làng nằm trong số thửa 34; diện tích 820m² có một ngôi nhà 5 gian cấp 4. Khu đất này chia làm 2 phần như sau:
    • + Chia cho anh Lê Văn H diện tích 400m²;
    • + Chia cho anh Lê Văn P 420 m², trên đất có ngôi nhà cấp bốn 5 gian.
  • Khu đất cụm dân cư trong làng tại số thửa 37, diện tích 416m² có một ngôi nhà 2 gian hẹp. Khu đất này chia cho Lê Thị T sở hữu sử dụng lâu dài.

Cụ Trần Thị N5 vẫn hưởng hoa lợi ở tất cả các khu đất chia cho các con cho đến khi qua đời.

* Nội dung di chúc lập ngày 22/3/2009 của cụ Trần Thị N5 (có xác nhận của UBND xã ngày 19/01/2010):

Trước đây tôi có lập bản di chúc vào ngày 22/9/2005, hiện nay sức khỏe tôi ổn định, tinh thần minh mẫn. Thấy bản di chúc đó không phù hợp với tôi. Nay tôi quyết định hủy bỏ bản di chúc ngày 22/9/2005 và lập bản di chúc ngày 22/3/2009.

Tổng số tài sản: Tổng số tài sản của tôi để lại là 1988 m² đất thổ cư gồm ba thửa nằm ở thôn H và ba ngôi nhà cấp 4 nằm trên ba thửa đất của tôi. Những người được hưởng di sản của tôi:

Phân định phần di sản cho từng người thừa kế:

  • Lê Văn N1: Được nhận phần di sản khu đất ở độc lập thuộc cụm dân cư xóm bãi, thửa số 31, tờ bản đồ số 2 tỷ lệ 1/1000, diện tích 752 m² và một ngôi nhà cấp 4. Thửa đất này mang tên Lê Văn N1, hiện Lê Văn N1 đang sử dụng.
  • Lê Văn H được nhận phần di sản 1 phần của thửa đất thuộc cụm dân cư trong làng số thửa 34, tờ bản đồ số 03, tỷ lệ 1/1000, tiện tích 820 m² có một ngôi nhà cấp 4, thửa đất này đứng tên tôi. Lê Văn H được nhận 400 m² có các số đo như sau: Phía tây bắc giáp Anh Lê Văn P có chiều dài 19m; Phía đông bắc giáp anh Lê Văn K1 và anh Trần Văn L1 có chiều dài 80m; Phía đông nam giáp đường trục chính có chiều dài 14,5m; Phía tây nam giáp ông Lê Văn Đ2 và ông Lê Văn L2 có chiều dài 26,5m.
  • Lê Văn P được nhận phần di sản một ngôi nhà cấp 4 và 420m² nằm trong thửa đất 820m², tôi đã cho Lê Văn H 400 m², phần của Lê Văn P 420m² có các số đó như sau: Phía Bắc giáp đường trục xóm cho chiều dài 18m; Phía Đông Bắc giáp ông Lê Văn B1 có chiều dài 23m; Phía Đông Nam giáp ông Lê Văn H có chiều dài 19 m; Phía Tây Nam giáp ông Lê Văn Đ2 có chiều dài 22,50m.

Lê Văn H và Lê Văn Phát H2 đang sử dụng chung đã có mốc cõi rõ ràng.

  • Lê Thị T được nhận phần di sản một phần của thửa đất thuộc cụm dân cư trong làng số thửa 37 tờ bản đồ số 03, diện tích 416 m² có một ngôi nhà cấp 4 thửa đất này mang tên tôi, Lê Thị T được nhận một ngôi nhà cấp 4 và 144 m² về phía Đông Nam có các số đo như sau: Phía Đông Nam giáp ông Lê Văn Đ2 có chiều dài 17 m; Phía Tây Bắc giáp bà Trần Thị N5 có chiều dài 17,50m; Phía Tây Nam giáp trục đường làng có chiều dài 8,40m; Phía Đông Bắc giáp ông Lê Văn Đ2 có chiều dài 8,40m. Lê Thị T chỉ sử dụng 144m² đất hết đời, khi Lê Thị T già yếu người nào lo liệu hậu sự cho Lê Thị T người đó được quyền sở hữu 144 m² đất của Lê Thị T. Trên thửa đất 416 m² có một ngôi nhà cấp 4, ngôi nhà này Lê Thị T được ở đến hết đời, trường hợp làm lại thì Lê Thị T làm trên diện tích 144m² đã được tôi cho.
  • Phần di sản còn lại 272 m² nằm trong thửa 416 m² về phía T có các số đo như sau: Phía Đông Nam giáp chị Lê Thị T có chiều dài 17,50m; Phía Tây Bắc giáp ông Lê Văn Đ2 có chiều dài 19,40m; Phía Tây Nam giáp trục đường làng có chiều dài 15,60m; Phía Đông Bắc giáp ông Lê Văn Đ2 có chiều dài 14,30m. Phần di sản còn lại kể trên tôi giao cho con trai thứ ba là Lê Văn P quản lý và có trách nhiệm trông nom, phụng dưỡng tôi lúc khỏe cũng như ốm yếu cho tới khi tôi qua đời. Sau khi tôi qua đời Lê Văn P mới có quyền sở hữu di sản còn lại kể trên lâu dài.

Tại Biên bản định giá ngày 09/6/2022. Hội đồng định giá xác định:

  • Thửa đất số 31, tờ bản đồ số 02, diện tích 752m², giá trị quyền sử dụng đất trị giá thành tiền là 5.000.000 đồng/m² và các tài sản trên gắn liền đất được định giá chi tiết tại Biên bản định giá.
  • Thửa đất số 34, tờ bản đồ 03, diện tích 820m² giá trị quyền sử dụng đất trị giá thành tiền là 5.000.000 đồng/m² và các tài sản gắn liền trên đất được định giá chi tiết tại Biên bản định giá.
  • Thửa đất số 37, tờ bản đồ số 03, diện tích 416m², đo thực tế là 419,5 m²; giá trị quyền sử dụng đất trị giá thành tiền là 10.000.000 đồng/m² và các tài sản gắn liền trên đất được định giá chi tiết tại Biên bản định giá.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện theo ủy quyền của bà T và bà T trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên di chúc của cụ N5 lập ngày 22/3/2009 vô hiệu; Công nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 37 cho bà T và buộc ông P phải thanh toán số tiền đất do ông P đã làm nhà trên diện tích đất của thửa đất số 37 cho bà T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích của ông P, bà O: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Di chúc của cụ N5 để lại di sản cho ông P đồng thời chấp nhận phần diện tích đất ông P được thừa hưởng theo di chúc của cụ N5.

Đại diện VKSND huyện Thanh Oai phát biểu: Đề nghị Hội đồng xét xử Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc kiện chia thừa kế: Xác định Di chúc ngày 22/3/2009 của cụ N5 vô hiệu một phần. Xác định di chúc ngày 22/3/2009 của cụ N5 có hiệu lực đối với phần di sản của cụ N5. Chia di sản của cụ Q theo pháp luật, chia di sản của cụ N5 theo ý chí định đoạt của cụ trong di chúc ngày 22/3/2009. Giao:

  • Ông Lê Văn N1 được quản lý sử dụng thửa đất số 31, diện tích 752 m²;
  • Ông Lê Văn H được quản lý sử dụng 400 m² đất nằm trong thửa đất số 34 như hiện trạng hiện nay.
  • Bà Lê Thị T được quản lý sử dụng 215 m² đất nằm trong thửa đất số 37.
  • Ông Lê Văn P được quản lý sử dụng 420 m² đất nằm trong thửa đất số 34 như hiện trạng hiện nay và 201m² đất nằm trong thửa đất số 37. Đối với phần diện tích nhà đất mà gia đình ông P xây dựng, sử dụng nằm trên phần đất bà T được hưởng thì ông P phải thanh toán giá trị phần đất được chia cho bà T.

Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 25/7/2024, Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội. Quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T V/v kiện chia thừa kế.
    • Xác định Di chúc ngày 22/3/2009 của cụ Trần Thị N5 vô hiệu một phần.
    • Xác định quyền sử dụng 376m², giá trị 3.760.000.000 đồng nằm trong thửa đất số 31, tờ bản đồ số 02, diện tích 752m² là di sản thừa kế của cụ Q. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Q gồm: cụ Trần Thị N5, ông Lê Văn N1, ông Lê Văn H, Bà Lê Thị T, ông Lê Văn P, bà Lê Thị N2. Chia di sản thừa kế làm 06 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 62,6m² giá trị là 626.660.000 đồng.
    • Xác định quyền sử dụng 410 m², giá trị 2.050.000.000 đồng nằm trong thửa đất số 34, tờ bản đồ số 3, diện tích 820 m² là di sản thừa kế của cụ Q; chia làm 06 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 68,3 m² giá trị là 341.500.000 đồng.
    • Xác định quyền sử dụng 208 m², giá trị 2.080.000.000 đồng nằm trong thửa đất số 37, tờ bản đồ số 3, diện tích 416 m² là di sản thừa kế của cụ Q. Chia làm 06 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 34,6 m² giá trị là 346.000.000 đồng.
    • Xác định di sản thừa kế của cụ Trần Thị N5 gồm:
      • + Quyền sử dụng 438,6m² đất có giá trị 4.386.000.000 đồng nằm trong thửa đất số 31, tờ bản đồ số 02.
      • + Quyền sử dụng 478,3m², có giá trị 2.391.500.000 đồng nằm trong thửa đất số 34, tờ bản đồ số 3.
      • + Quyền sử dụng 242,6 m², giá trị 2.426.000.000 đồng nằm trong thửa đất số 37, tờ bản đồ số 3.

Di chúc ngày 22/3/2009 có giá trị pháp lý đối với phần di sản thừa kế của cụ N5.

  • Giao cho ông Lê Văn N1 được quản lý sử dụng thửa đất số 31, tờ bản đồ số 02, diện tích 752 m²; địa chỉ: thôn H, xã K, huyện T, TP Hà Nội.
  • Giao cho ông Lê Văn H được quản lý sử dụng 400 m² đất nằm trong Thửa đất số 34, tờ bản đồ số 3, diện tích 820 m²; thôn H, xã K, huyện T, TP Hà Nội như hiện trạng hiện nay.
  • Giao cho ông Lê Văn P được quản lý sử dụng 420 m2 đất nằm trong Thửa đất số 34, tờ bản đồ số 3, diện tích 820 m²; thôn H, xã K, huyện T, TP Hà Nội như hiện trạng hiện nay.
  • Giao cho ông Lê Văn P được quản lý sử dụng 246,3 m² đất nằm trong thửa đất số 37, tờ bản đồ số 3; địa chỉ: thôn H, xã K, huyện T, TP Hà Nội (Có sơ đồ cụ thể kèm theo). Hiện tại gia đình ông P đang trực tiếp quản lý phần diện tích đất này.
  • Giao bà Lê Thị T được quản lý sử dụng 173,2m² đất nằm trong thửa đất số 37, tờ bản đồ số 3, ; địa chỉ: thôn H, xã K, huyện T, TP Hà Nội (có sơ đồ cụ thể kèm theo). Hiện tại bà T là người đang trực tiếp quản lý phần diện tích đất này.

Theo hiện trạng hiện nay bà T đang quản lý, sử dụng, còn thiếu 41,8m² so với diện tích đất được giao, phần diện tích đất này đã giao cho ông Lê P quản lý sử dụng.

Tổng số tiền ông Lê Văn P phải thanh toán trả cho bà Lê Thị T là: 41,8m² X 10.000.000 đ/m²= 418.000.000 đồng. Do điều kiện hoàn cảnh của bà T là người neo đơn, hoàn cảnh khó khăn nên bà Lê Thị T được tiếp tục quản lý, sử dụng ngôi nhà hiện đang sử dụng có phần nhà trên phần diện tích đất mà ông Lê Văn P được quản lý, sử dụng cho đến khi ông Lê Văn P thanh toán xong khoản tiền chênh lệch diện tích đất mà bà T được hưởng. Ngoài ra gia đình ông P phải tạo điều kiện để bà T đi lại cho đến khi bà T tạo dựng được lối đi riêng.

Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí; quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm:

  • Bà Lê Thị T là nguyên đơn - Kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xác định Bản Di Chúc ngày 22/3/2009 của cụ N5 không có hiệu lực pháp luật; chia di sản thừa kế của cụ Q và cụ N5 theo pháp luật.
  • Ông Lê Văn P là bị đơn - Kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xác định Bản Di Chúc ngày 22/3/2009 của cụ N5 có hiệu lực pháp luật và những người thừa kế được hưởng di sản thừa kế theo bản di chúc này.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 18/3/2025.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị xem xét, thẩm định lại đối với tài sản đang tranh chấp là thửa đất số 37. Không đề nghị định giá lại tài sản vì không đề nghị phân chia tài sản trên đất.

Ngày 29/4/2025. Tòa án cấp phúc thẩm xem xét thẩm định lại thửa đất số 37. Phần đất do ông P quản lý và phần đất do bà T có diện tích thực tế là 419,5m². Các đương sự có mặt và UBND xã K đều xác định diện tích chênh lệch 3,5m² là do cách đo thủ công trước đây; ông P, bà T đều không mua thêm, không lấn chiếm đất công hoặc đất của các hộ liền kề.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người kháng cáo trình bày tranh luận:

Đại diện theo ủy quyền của bà T và bà T thống nhất trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xác định Bản Di Chúc ngày 22/3/2009 của cụ N5 để lại không có hiệu lực pháp luật; chia di sản thừa kế của cụ Q, cụ N5 để lại là quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 31,34,37 theo pháp luật. Các ngôi nhà cấp 4 do do cụ Q - cụ N5 để lại tại thửa đất số 31 do ông N1 quản lý; tại thửa đất số 34 do ông P quản lý; tại thửa đất số 37 do bà T quản lý. Đề nghị không xem xét phân chia; phân quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 31,34,37 theo pháp luật. Các tài sản gắn liền trên đất thuộc phần đất ai được phân chia thì người đó được hưởng, không phải thanh toán giá trị. Đối với phần đất mà ông P đã làm nhà trên thửa đất 37 nếu có diện tích lớn hơn phần đất ông được chia thì ông P phải thanh toán bằng tiền.

Đại diện theo ủy quyền của ông P và ông P thống nhất trình bày:

  • Các thửa đất số 31,34 các anh chị em đã thống nhất phân chia như các ông N1, Hóa, Phát hiện đang quản lý, không đề nghị xem xét phân chia lại. Đề nghị Hội đồng xét xử xác định Bản Di Chúc ngày 22/3/2009 của cụ N5 để lại có hiệu lực pháp luật đối với phần di sản của cụ N5 tại thửa đất số 37. Đề nghị phân chia theo hướng ông P đã được cụ N5 chia cho ông 272 m² tương ứng hơn 65% phần của cụ N5. Phần của cụ Q đề nghị chia theo pháp luật, giao phần cụ N5 được hưởng thừa kế từ cụ Q cho ông P được hưởng. Nhất trí, chỉ đề nghị phân quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 31,34,37. Các tài sản gắn liền trên đất thuộc phần đất ai được phân chia thì người đó được hưởng không phải thanh toán giá trị. Do ông N1, ông H đều đi công tác không thường xuyên ở nhà, bà N2 đã kết hôn về nhà chồng sinh sống, bà T bệnh tật, có biểu hiện không bình thường về sức khỏe, Nhà nước phải trợ cấp; Nên ông P là người ở nhà công sức chăm sóc cụ Q, cụ N5 khi ốm đau và tổ chức tang lễ, ma chay khi các cụ chết. Đề nghị Hội đồng xét xử tính công sức duy trì khối di sản; công sức chăm sóc cụ Q, cụ N5 khi ốm đau và tổ chức tang lễ, ma chay khi các cụ chết và chăm sóc bà T cho ông P khoảng 70 đến 80m² đất tại thửa đất số 37. Chia cho ông P được hưởng 272m² tại thửa đất số 37 như di chúc của cụ N5 và thêm khoảng 7 m² đến 8m² công sức tại thửa đất số 37.

Người không kháng cáo:

  • Ông H trình bày: Nhất trí với quan điểm của bà T đã trình bày đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật.
  • Bà O, anh C (Vợ, con ông P) trình bày: Nhất trí với quan điểm của ông P và người đại diện theo ủy quyền của ông P đã trình bày. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của ông P.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa không gửi quan điểm, ý kiến của họ bằng văn bản đến Hội đồng xét xử.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa thừa nhận: Cụ N5 không biết chữ; bà T có biểu hiện không bình thường về sức khỏe. Nhưng có người đại diện theo ủy quyền của bà tham gia tố tụng. Cùng không đề nghị xem xét về khả năng nhận thức, hành vi của bà T. Nhưng không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết toàn bộ vụ án.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Theo Bản phát biểu quan điểm lưu trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử xác định Bản Di Chúc ngày 22/3/2009 của cụ N5 không có hiệu lực pháp luật. Đề nghị chia di sản của cụ Q, cụ N5 là quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 31,34,37 theo pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

  1. Về tố tụng:

    Cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

    Người kháng cáo thực hiện việc kháng cáo tuân thủ quy định tại các Điều 271,272,273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

    Các đương sự không kháng cáo được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt họ.

  2. Về nội dung:
    1. Những nội dung các đương sự cùng thống nhất:

      Cấp sơ thẩm thụ lý, xem xét giải quyết yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Q trong thời hiệu khởi kiện là đúng.

      Cụ Lê Văn Q chết ngày 12/61982 (Âm lịch) không để lại di chúc bằng văn bản. Cụ Trần Thị N5 chết ngày 12/5/2016 để lại bản di chúc sau cùng là Bản Di Chúc ngày 22/3/2009. Cụ Q và cụ N5 có 05 người con chung đồng thời là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ gồm các ông, bà: 1 Lê Thị N2; 2 Lê Văn N1; 3 Lê Văn H; 4 Lê Thị T; 5 Lê Văn P. Ngoài ra không còn ai khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ. Hai cụ có các khối tài sản gồm: 1 Thửa đất số 31, tờ bản đồ 02; diện tích 752 m² đất ở; Hiện do gia đình ông N1 quản lý, sử dụng và đã xây dựng các công trình, cây cối trên đất. 2 Thửa đất số 34, tờ bản đồ 03; diện tích 820m² đất ở. Hiện: Gia đình ông H quản lý sử dụng và xây dựng các công trình, cây cối trên diện tích 400m² đất; Gia đình ông P quản lý sử dụng và xây dựng các công trình, cây cối trên diện tích 420m² đất. 3 Thửa đất số 37, tờ bản đồ 03; diện tích đo thực tế là 419,5m² đất ở. Ngày 27/12/2007, UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AH 914988 cho bà Lê T nhưng đã bị thu hồi. Hiện gia đình ông P quản lý sử dụng một phần diện tích đất và xây dựng các công trình, cây cối trên đất; Bà T quản lý sử dụng một phần đất và các tài sản gắn liền trên đất.

      Bản Di Chúc ngày 22/3/2009 được cụ N5 lập trên cơ sở đã hủy bỏ các bản di chúc lập trước đó. Cụ N5 không biết chữ. Đề nghị chia thừa kế là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 31,34,37; không đề nghị phân chia tài sản gắn liền trên đất. Diện tích đất chia cho ai thì tài sản trên đất thuộc về người đó hưởng; Bà N2 tự nguyện tặng cho kỷ phần của mình được thừa kế cho ông N1 được hưởng.

    2. Xét kháng cáo của các đương sự.
      1. Xét kháng cáo của bà T. Hội đồng xét xử thấy:

        Các thửa đất số 31;34;37 là di sản chung của cụ Q - cụ N5 được hưởng từ ông cha các cụ để lại. Do đó cấp sơ thẩm xác định là tài sản chung vợ chồng cụ Q - cụ N5 là đúng quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959.

        Xét Bản Di Chúc ngày 22/3/2009. Thấy:

        Các đương sự đều thừa nhận “Cụ N5 không biết chữ”. Bản Di Chúc ngày 22/3/2009 được đánh máy. Tại phần “Người lập di chúc”, chỉ có dấu vân tay điểm chỉ, bên dưới dấu vân tay có dòng chữ đánh máy Trần Thị N5; bên cạnh có dòng chữ viết tay Đ3 chỉ ngón trỏ tay phải – không thể hiện “ngón trỏ tay phải” của ai; không có người làm chứng. Ngày 19/01/2010 (gần 01 năm sau) UBND xã K mới chứng thực. Ngày 22/3/2009 khi cụ N5 lập Bản Di Chúc là thời điểm cụ Q đã chết; không có ý kiến bằng văn bản của cụ Q để lại nhưng cụ N5 định đoạt toàn bộ tài sản chung vợ chồng cụ Q - cụ N5. Đối chiếu với Bộ luật dân sự năm 2005 (Bộ luật có hiệu lực tại thời điểm lập di chúc) quy định:

        • Điều 652. Di chúc hợp pháp

          3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

        • Điều 655. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

          Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc ....

        • Điều 658. Thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn

          Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây: ......

          2. Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.”

        Đủ căn cứ xác định Bản Di Chúc ngày 22/3/2009 mà các đương sự cho rằng là của cụ N5 để lại không đúng quy định pháp luật nên không hợp pháp.

        Điều 675 Bộ luật dân sự năm 2005 (Bộ luật có hiệu lực tại thời điểm lập di chúc) và Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015 (Bộ luật có hiệu lực tại thời điểm giải quyết vụ án) đều quy định: “1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây: ... b) Di chúc không hợp pháp”.

        Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T: Xác định Bản Di Chúc ngày 22/3/2009 của cụ N5 để lại là không hợp pháp; Chia di sản thừa kế của cụ Q, cụ N5 để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 31,34,37 theo pháp luật. Cụ thể:

        Mặc dù cụ Q chết ngày 12/6/1982 (Âm lịch). Cụ N5 chết ngày 12/5/2016. Thời điểm mở thừa kế của hai cụ khác nhau; nhưng hàng thừa kế của hai cụ gồm các ông bà: Ngũ, N1, H, T, P không còn có ai khác nên Hội đồng xét xử chia thừa kế di sản của hai cụ cùng một lần, mà không làm thay đổi các giá trị của từng kỷ phần.

        Xác định:

        Thửa đất số 31, diện tích 752 m² giá trị thành tiền (752 m² đất x 5.000.000 đồng/m²) là 3.760.000.000 đồng(thửa 31); thửa đất số 34, diện tích tích 820m² trị giá thành tiền (820m² x 5.000.000 đồng/m²) là 4.100.000.000 đồng(thửa 34). Hai thửa đất là tài sản chung vợ chồng cụ Q - cụ N5 có tổng trị giá. [3.760.000.000 đồng (thửa 31) + 4.100.000.000 đồng(thửa 34)] là 7.860.000.000 đồng.

        Xét về công sức:

        Thửa đất số 31 do gia đình ông N1 quản lý sử dụng; tự sửa chữa thay thế nhà cấp 4 do các cụ để lại; xây dựng kiến thiết một số tài sản, cây cối trên đất; cụ Q chết và tổ chức tang lễ tại đây. Thửa đất số 34 do gia đình ông P quản lý sử dụng 420m²; tự sửa chữa thay thế nhà cấp 4 do các cụ để lại và xây dựng kiến thiết một số tài sản, cây cối trên đất. Ông H quản lý sử dụng 400m²; tự xây dựng kiến thiết một số tài sản, cây cối trên đất. Các đương sự đều xác định phân chia ông N1, ông P, ông H tiếp tục quản lý sử dụng phần đất mà các ông đang quản lý sử dụng và phát triển các tài sản trên đất; không phải thanh toán giá trị các tài sản trên đất của các cụ để lại. Do ông N1, ông H đều không yêu cầu tính thanh toán công sức nên Hội đồng xét xử không xét. Đối với công sức của ông P tại thửa đất số 34. Do các đương sự cùng thống nhất: Giao 420m² đất, trên có ngôi nhà cấp 4 của các cụ để lại và các tài sản gắn liền trên đất do ông P xây dựng phát triển được tại thửa đất số 34 cho ông P. Như vậy ông P đã được hưởng chính các phần tài sản do ông phát triển và ngôi nhà cấp 4 của các cụ để lại mà không phải thanh toán giá trị. Nên ông P không được thanh toán công sức đối với 420m² đất tại thửa đất số 34 do ông quản lý sử dụng mà chính ông được hưởng.

        Chia cho các ông bà: Ngũ, N1, H, T, P được hưởng thừa kế tại thửa đất số 31 và 34 là các kỷ phần bằng nhau. Mỗi kỷ phần được hưởng trị giá thành tiền (7.860.000.000 đồng/5 kỷ phần) là 1.572.000.000 đồng(thửa 31 +34).

        Do bà N2 tự nguyện tặng cho kỷ phần của mình cho ông N1 nên ông N1 được thực hưởng tại thửa đất số 31,34 là 3.144.000.000 đồng(thửa 31 +34).

        Đối với thửa đất số 37. Các đương sự và UBND xã K đều xác định diện tích đo thực tế là 419,5m² trị giá thành tiền là (419,5m²x 10.000.000 đồng/m²) là 4.195.000.000 đồng. Mặc dù bà T và ông P cùng quản lý, Tuy nhiên: Khi cụ N5 còn sống thì ở trên nhà đất này; ông P có công chăm sóc cụ, có công tôn tạo đất; bà T sức khỏe yếu, khó khăn phải hưởng trợ cấp nên không có khả năng đóng góp việc tôn tạo đất, chăm sóc cụ N5; các ông bà: Ngũ, N1, H xác định không đóng góp việc tôn tạo đất. Nên chấp nhận việc ông P đề nghị được hưởng công sức chăm sóc cụ N5 và công tôn tạo đất. Hội đồng xác định ông P được hưởng công sức tại thửa đất số 37 tương ứng một kỷ phần thừa kế. Hội đồng chia di sản tại thửa đất số 37 thành 06 kỷ phần (4.195.000.000 đồng/6) là 699.166.666,666.. (làm tròn là 699.166.666) đồng; các ông bà: Ngũ, N1, H, Thêm mỗi người được hưởng 01 kỷ phần thừa kế là 699.166.666 đồng (Thửa 37). Riêng ông P được hưởng (kỷ phần thừa kế và công sức là 699.166.666 đồng x 2) là 1.398.333.332 đồng(Thửa 37). Bà N2 tặng cho kỷ phần của bà cho ông N1, nên ông N1 được hưởng (699.166.666 đồng x 2) là 1.398.333.332 đồng(Thửa 37).

        Tổng các ông bà N1, H, T, P được hưởng tại 03 thửa đất là:

        Ông N1 được hưởng {Phần được chia thừa kế và hưởng kỷ phần bà N2 tặng cho [ 3.144.000.000 đồng (thửa 31 +34) + 1.398.333.332 đồng đồng (thửa 37)]} là 4.542.333.332 đồng (Tổng thửa 31 +34 +37).

        Ông H được hưởng [1.572.000.000 đồng(thửa 31 +34) + 699.166.666 đồng (thửa 37)] là 2.271.166.666 đồng(Tổng thửa 31 +34 +37).

        Bà T được hưởng [1.572.000.000 đồng(thửa 31 +34) + 699.166.666 đồng (thửa 37)] là 2.271.166.666 đồng (Tổng thửa 31 +34 +37);

        Ông P được hưởng { Kỷ phần được chia thừa kế và được thanh toán công sức [1.572.000.000đồng(thửa 31+34)+1.398.333.332 đồng (thửa 37)]} là 2.970.333.332 đồng(Tổng thửa 31 +34 +37)

        Chia bằng hiện vật:

        Căn cứ trình bày của các đương sự; thực tế quản lý sử dụng và xây dựng các tài sản trên đất của gia đình ông N1, ông H, ông P và bà T. Để đảm bảo quyền lợi cho các chủ sở hữu tài sản trên đất và phù hợp với thực tế sử dụng. Hội đồng xét xử phúc thẩm phân chia hiện vật như sau:

        • Chia (Giao) cho ông Lê Văn N1 được quản lý, sử dụng thửa đất số 31, diện tích 752 m² và được sở hữu toàn bộ các tài sản gắn liền trên diện tích 752m² đất được chia (giao). Giá trị quyền sử dụng đất là 3.760.000.000 đồng. Đối chiếu với 4.542.333.332 đồng ông được thực hưởng thì ông còn thiếu [4.542.333.332 đồng - 3.760.000.000 đồng] là 782.333.332 đồng. Ông N1 được thanh toán lại khoản này.
        • Chia (Giao) cho ông Lê Văn H được quản lý sử dụng 400m² đất thuộc thửa đất số 34 và sở hữu toàn bộ các tài sản gắn liền trên đất 400m² được chia (giao). Giá trị quyền sử dụng đất là 2.000.000.000 đồng. Đối chiếu với 2.271.166.666 đồng (tổng thửa 31 +34 +37) mà ông được thực hưởng thì ông còn thiếu (2.271.166.666 đồng - 2.000.000.000 đồng) là 271.166.666 đồng. Ông H được thanh toán lại khoản này.
        • Chia (Giao) cho bà T được được quản lý sử dụng 180m² đất thuộc thửa đất số 37 và sở hữu toàn bộ các tài sản gắn liền trên diện tích 180m². Giá trị quyền sử dụng đất là 1.800.000.000 đồng. Đối chiếu với 2.271.166.666 đồng(tổng thửa 31 +34 +37) mà bà được thực hưởng thì bà còn thiếu (2.271.166.666 đồng - 1.800.000.000 đồng) là 471.166.666 đồng. Bà T được thanh toán lại khoản này.
        • Chia (Giao) cho ông Lê Văn P được quản lý, sử dụng 420m2 đất tại thửa đất số 34 (giá trị 2.100.000.000 đồng) và 239,5 m² đất tại thửa đất số 37(giá trị 2.395.000000 đồng); Đồng thời được sở hữu toàn bộ các tài sản gắn liền trên phần diện tích đất 420m² và 239,5 m² đất được chia. Tổng trị giá thành tiền là 4.495.000.000 đồng. Đối trừ phần hiện vật ông P được thực giao với phần ông được thực hưởng thì ông P được chia (giao) nhiều hơn [4.495.000.000 đồng (Giá trị hiện vật được thực giao) - 2.970.333.332 đồng (Giá trị được thục hưởng thừa kế và thanh toán công sức)] là 1.524.666.668 đồng. Ông P phải thanh toán trả khoản chênh lệch này cho: Ông N1 số tiền 782.333.332 đồng; Ông H số tiền 271.166.666 đồng và bà T số tiền 471.166.666 đồng (Còn dư 04 đồng do làm tròn ông P được hưởng).
      2. Xét kháng cáo của ông P. Hội đồng xét xử thấy:

        Như nhận định về kháng cáo của bà T. Xác định Bản Di Chúc ngày 22/3/2009 của cụ N5 để lại không hợp pháp. Do đó Hội đồng xét xử phân chia thừa kế di sản của cụ Quảng cụ Ngạch để lại theo pháp luật. Mặc dù ông P và đại diện theo ủy quyền của ông P đề nghị được thanh toán công sức khoảng khoảng 70 đến 80m² đất tại thửa đất số 37. Hội đồng xét xử đã chấp nhận việc ông P đề nghị được hưởng công sức chăm sóc cụ N5 và công tôn tạo đất tương ứng một kỷ phần thừa kế tại thửa đất số 37 trị giá thành tiền là 699.166.666 đồng (gần 70m² đất tại thửa đất số 37) là đúng quy định pháp luật. Ông Lê Văn P được quản lý sử dụng diện tích 420m² tại thửa 34 và diện tích 239,5 m² tại thửa đất số 37 và được sở hữu các tài sản gắn liền trên phần diện tích đất đất được chia (giao). Buộc ông P phải thanh toán trả chênh lệch cho: Ông N1 số tiền 782.333.332 đồng; Ông H số tiền 271.166.666 đồng và bà T số tiền 471.166.666 đồng.

    3. Về án phí: Các đương sự là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Các Điều 147,148 khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Các Điều: 631, 632, 633, 634, 635, 646, 647, 648, 649, 650, 652, 653, 657, 658, 662, 667, 674, 675, 676, 684, 685 Bộ luật dân sự năm 2005.
  • Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959;
  • Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016; “Giải đáp một số vấn đề về nghiệp vụ” số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Các Điều: 95, 167, 170 Luật đất đai năm 2013,
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14. Điều 2 Luật người cao tuổi.

Xử:

Chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị T và một phần kháng cáo của ông Lê Văn P. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội. Cụ thể:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T về khởi kiện chia thừa kế di sản do cụ Lê Văn Q và cụ Trần Thị N5 để lại theo pháp luật.
  2. Xác định: Cụ Lê Văn Q chết ngày 12/61982 (Âm lịch). Cụ Trần Thị N5 chết ngày 12/5/2016. Thời điểm mở thừa kế của hai cụ là ngày hai cụ chết. Hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ gồm: 1. Bà Lê Thị N2; 2. Ông Lê Văn N1; 3. Ông Lê Văn H; 4. Bà Lê Thị T; 5. Ông Lê Văn P.
  3. Xác định quyền sử dụng: 1.Thửa đất số 31, tờ bản đồ 02, diện tích 752 m² đất ở; 2 Thửa đất số 34, tờ bản đồ 03, diện tích 820m² đất ở; 3 Thửa đất số 37, tờ bản đồ 03, diện tích 419,5m² đất ở. Tại: Thôn H, xã K, huyện T, Hà Nội là tài sản chung vợ chồng cụ Lê Văn Q - cụ Trần Thị N5.
  4. Xác định BẢN DI CHÚC ngày 22/3/2009 của cụ Trần Thị N5 không hợp pháp. Di sản của cụ Lê Văn Q và cụ Trần Thị N5 được xác định tại khoản 3 Quyết định của bản án được chia thừa kế theo pháp luật.
    1. Chia trị giá thành tiền:
      1. Trích số tiền 699.166.666 đồng trong tổng giá trị của thửa đất số 37 thanh toán công sức cho ông Lê văn P.
      2. Ghi nhận bà Lê Thị N2 tự nguyện tặng cho kỷ phần của mình được hưởng cho ông Lê Văn N1. Ông Lê Văn N1 được hưởng thừa kế từ di sản của cụ Lê Văn Q - cụ Trần Thị N5 để lại và hưởng kỷ phần thừa kế của bà Lê Thị Ngũ T3 cho là 4.542.333.332 đồng.
      3. Ông Lê Văn H được hưởng thừa kế từ di sản của cụ Lê Văn Q - cụ Trần Thị N5 để lại là 2.271.166.666 đồng;
      4. Bà Lê Thị T được hưởng thừa kế từ di sản của cụ Lê Văn Q - cụ Trần Thị N5 để lại là 2.271.166.666 đồng;
      5. Ông Lê Văn P được hưởng thừa kế từ di sản của cụ Lê Văn Q -cụ Trần Thị N5 để lại và được thanh toán công sức là 2.970.333.332 đồng.
    2. Chia bằng hiện vật:
      1. Chia (Giao) cho ông Lê Văn N1 được hưởng và tiếp tục quản lý sử dụng thửa đất số 31, tờ bản đồ 02, diện tích 752 m² đất ở tại: Thôn H, xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội và được sở hữu toàn bộ các tài sản gắn liền trên diện tích 752 m² đất được hưởng; Giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,1 trong sơ đồ kèm theo bản án.
      2. Chia (Giao) cho ông Lê Văn H được hưởng và tiếp tục quản lý sử dụng 400 m² đất ở thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ 03 đất ở tại: Thôn H, xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội và được sở hữu toàn bộ các tài sản gắn liền trên đất 400 m² được chia (giao). Giới hạn bởi các điểm 3,4,5,6,7,8,9,10,3 trong sơ đồ kèm theo bản án.
      3. Chia (Giao) cho bà Lê Thị T được hưởng và tiếp tục quản, lý sử dụng 180m² đất ở thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ 03 tại: Thôn H, xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội và được sở hữu toàn bộ các tài sản gắn liền trên diện tích 180m² đất được hưởng. Giới hạn bởi các điểm 5,6,7,8,9,10,11, 1,2,3,4,5 trong sơ đồ kèm theo bản án. Bà Lê Thị T có quyền, nghĩa vụ chủ động mở lối đi riêng trong diện tích đất được hưởng để đi ra đường công cộng theo quy định pháp luật.
      4. Chia (Giao) cho ông Lê Văn P được hưởng và tiếp tục quản, lý sử dụng 420m² đất ở thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ 03 tại: Thôn H, xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội và sở hữu toàn bộ các tài sản gắn liền trên diện tích 420 m² đất được hưởng; Giới hạn bởi các điểm 1,2,3,10,11,12,13,14,1 trong sơ đồ kèm theo bản án.
      5. Chia (Giao) cho ông Lê Văn P được hưởng và tiếp tục quản, lý sử dụng 239,5 m² đất ở thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ 03 tại: Thôn H, xã K, huyện T, Thành phố Hà Nội và được sở hữu toàn bộ các tài sản gắn liền trên diện tích 239,5 m² đất được hưởng. Giới hạn bởi các điểm 11,12,13,14,15,16, 17,5,4,3,2,1,11 trong sơ đồ kèm theo bản án.
  5. Người được chia (Giao) di sản thừa kế tại tiểu điểm 4.2.1; 4.2.2; 4.2.3; 4.2.4; 4.2.5 điểm 4.2 khoản 4 Quyết định của bản án có quyền nghĩa vụ chủ động liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký kê khai quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản; đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản theo quyết định của bản án và theo quy định pháp luật.
  6. Buộc ông Lê Văn P phải thanh toán chênh lệch trả:
    • Ông Lê Văn N1 số tiền 782.333.332 (Bảy trăm tám mươi hai triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi hai) đồng;
    • Ông Lê Văn H số tiền 271.166.666 (Hai trăm bảy mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu) đồng;
    • Bà Lê Thị T số tiền 471.166.666 (Bốn trăm bảy mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu) đồng.
  7. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu người phải thi hành án nghĩa vụ trả tiền chưa thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu lãi đối với số tiền chưa thanh toán xong theo mức lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  8. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm cho các đương sự.
  9. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Các đương sự;
  • VKSND TP Hà nội;
  • TAND huyện Thanh Oai;
  • CCTHADS huyện Thanh Oai;
  • Lưu HS, VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 403/2025/DS-PT ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp thừa kế

  • Số bản án: 403/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Lê Thị T Bị đơn: Lê Văn P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger