TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 403/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 9 - 2024 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Thiều Thị Phi Loan.
- Ông Trần Văn Chánh;
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1178/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 350/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 451/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mai T, sinh năm: 1984.
Địa chỉ: 7, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Phạm T1, sinh năm: 1981.
Địa chỉ: Nhà không số, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Chị T, anh T1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Mai T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T1 tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2018 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường. Nhưng sau đó cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Dù đã nhiều lần cố gắng hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đều không có kết quả.
Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Phạm T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền, xác định tư cách đương sự, quan hệ pháp luật và việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định; Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo đảm theo quy định của pháp luật. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh T1; Về con chung: Không có; Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết sau nếu các đương sự có yêu cầu; Về án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về tư cách tố tụng, quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Chị Trần Thị Mai T có đơn yêu cầu ly hôn với anh Phạm T1, địa chỉ: Nhà không số, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo quy định tại các điều 28, 35, 39 và 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, chị T được xác định là nguyên đơn, anh T1 được xác định là bị đơn trong vụ án; quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
[1.2] Về việc tham gia phiên tòa của các đương sự:
Nguyên đơn chị Trần Thị Mai T đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phạm T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh T1 theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 đã đăng ký kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 139 ngày 12 tháng 12 năm 2018 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại các điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Theo lời khai của chị T trong quá trình giải quyết vụ án: Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường. Nhưng sau đó cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Dù đã nhiều lần cố gắng hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đều không có kết quả. Chị xác định tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.
Xét thấy, tại biên bản xác minh ngày 29 tháng 5 năm 2024, Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai xác định không biết về mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T, anh T1 do các đương sự không trình báo địa phương giải quyết. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng theo quy định cho anh T1 nhưng anh T1 không đến làm việc, tham gia tố tụng cũng như tham gia phiên tòa. Việc này thể hiện anh T1 đã không còn quan tâm và không muốn hàn gắn, hòa giải để hai vợ chồng đoàn tụ. Mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 là có thật, trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh T1.
[2.2] Về con chung: Chị T xác định chị và anh T1 không có con chung; anh T1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có lời khai nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định chị và anh T1 không có tài sản chung và nợ chung; anh T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có lời khai nên không đủ cơ sở xác định đối với phần tài sản chung, nợ chung. Vì vậy, không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này và tách ra giải quyết bằng vụ việc khác khi các đương sự có yêu cầu đối với phần tài sản chung, nợ chung.
[3] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[4] Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên cần chấp nhận.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 68, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83, 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật số: 97/2015/QH13, ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc Hội; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Trần Thị Mai T đối với bị đơn anh Phạm Tuấn . Chị T được ly hôn với anh T1.
2. Về con chung: Không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này. Tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Mai T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0003627 ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa. Chị T đã nộp xong.
5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự và các điều 7, 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Bảo |
Bản án số 403/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 403/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn với anh T1 và các nội dung khác
