TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 402/2024/HS-ST Ngày: 22/7/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Thanh Nhã |
| Thẩm phán: | Ông Hoàng Văn Thành |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Vũ Thị Tuyết Mai |
| Bà Nguyễn Thị Thúy | |
| Bà Trần Thị Thu Hạnh |
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 315/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 423/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Kiều Văn H, sinh năm 1991; giới tính: nam; ĐKHKTT: xóm C, thôn T, xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo; không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Văn H1 và bà Phí Thị T; đã ly hôn và có 02 con; tiền sự: không;
Tiền án:
- - Bản án số 70/2018/HSST ngày 25/9/2018, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo.
Nhân thân:
- - Bản án số 610/2022/HSPT ngày 26/7/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Bản án số 702/2022/HSPT ngày 24/8/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 14 năm 06 tháng tù về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Trộm cắp tài sản”, “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- - Bản án số 1047/2022/HSPT ngày 08/12/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm 06 tháng tù về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù tại Bản án số 70/2018/HSST ngày 25/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, hình phạt chung của 02 bản án là 09 năm 06 tháng tù.
Bị giam giữ trong vụ án khác; có mặt.
Người bào chữa:
Luật sư Đỗ Xuân Đ thuộc Công ty L1;
Bị hại:
- Công ty Cổ phần T4; địa chỉ: tầng I tòa nhà T, E N, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội; đại diện theo pháp luật: Ông Ro Min H2 – Tổng Giám đốc;
Đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Hoài H3, sinh năm 1981; nơi cư trú: phòng 201 nhà A tập thể N, phường N, quận Đ, Thành phố Hà Nội; có mặt.
- Chị Nguyễn Thùy L, sinh năm 1992; nơi cư trú: số A ngõ C N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội; đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận T, Hà Nội nhận được đơn của anh Phạm Thanh T1 là nhân viên Công ty TNHH T4 (nay là Công ty Cổ phần T4, gọi tắt là Công ty T4) tố giác Kiều V có hành vi làm giả chứng nhận đăng ký xe ô ô, xe máy rồi cầm cố, chiếm đoạt tiền của Công ty T4. Quá trình điều tra đã xác định hành vi phạm tội như sau:
1.Hành vi làm giả 02 chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô và 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô rồi 03 lần mang thế chấp tài liệu giả, chiếm đoạt của Công ty T4 tổng số tiền 480.000.000 đồng.
Công ty T4 được Sở kế hoạch và đầu tư thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do ông Ro Min H2 (sinh năm 1981; quốc tịch Hàn Quốc) làm Tổng giám đốc. Công ty kinh doanh Dịch vụ cầm đồ, tín dụng, cho khách hàng vay tiền bằng hình thức khách hàng chỉ cần để lại giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu bản gốc, còn tài sản thế chấp thì Công ty giao cho khách hàng quản lý, sử dụng, Công ty có địa điểm kinh doanh tại số B phố K, phường H, quận T, Hà Nội. Trong tháng 7 và tháng 8/2020, Kiều Văn H đã 03 lần thế chấp tài liệu giả, chiếm đoạt tiền của Công ty T4, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng tháng 3/2020, Kiều Văn H truy cập vào mạng xã hội facebook thấy có đăng tin rao bán chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato, BKS: 19A-614.20 thì H gọi điện thoại liên lạc để mua xe (Huấn không nhớ số điện thoại của mình và của người bán xe). Sau đó hai bên gặp nhau trên Đại lộ T đoạn nút giao xã Đ, huyện T, Hà Nội, tại đây người đàn ông bán cho H chiếc xe trên kèm theo 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 19A-614.20 mang tên Đỗ Quý N (sinh năm 1994; HKTT: Tổ A, khu C, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ) với giá 200.000.000 đồng nhưng hai bên không lập hợp đồng mua bán, không viết giấy biên nhận tiền. Sau khi mua được chiếc xe trên, H kiểm tra nguồn gốc thì được biết chiếc xe là của anh Đỗ Quý N đang thế chấp tại ngân hàng V3 chi nhánh tỉnh P, chứng nhận đăng ký xe bản gốc ngân hàng V3 vẫn đang giữ, nên H biết đăng ký xe Huấn đang quản lý là giả, H sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi lại. Khoảng đầu tháng 7/2020, H nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của Công ty T4. Huấn truy cập vào mạng xã hội Facebook, chụp ảnh chứng nhận đăng ký xe, gửi thông tin cá nhân và thuê đối tượng không quen biết làm giả 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô và Hợp đồng mua bán xe ô tô nội dung anh N bán xe ô tô cho H với giá 3.000.000 đồng. Khoảng 07 ngày sau nhân viên chuyển phát nhanh (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) giao cho H 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 19A-614.20 mang tên Đỗ Quý N do Phòng C Công an tỉnh P cấp ngày 10/8/2017 và 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô, nội dung: Đỗ Quý N bán cho Kiều Văn H xe ô tô nhãn hiệu KIA Cerato, BKS 19A-164.20, số máy: G4FGGH67624, số khung A6HC105332, giấy đăng ký số 023183 cấp ngày 10/8/2017. Đỗ Quý N ký tên, ghi dòng họ tên và điểm chỉ 02 dấu vân dưới mục bên bán, Kiều Văn H ký tên, ghi dòng họ tên và điểm chỉ 02 dấu vân dưới mục bên mua, có lời chứng ngày 03/6/2020 của Công chứng viên Trần Mạnh H4 và dấu của Văn P công chứng Nguyễn T2.
Ngày 19/7/2020, H đến Công ty T4 nói dối là xe đã mua nhưng chưa kịp làm thủ tục sang tên. Anh Triệu Đình H5 và anh Đỗ Đình P1 đều là nhân viên Công ty T4 thẩm định hồ sơ thế chấp và kiểm tra xe ô tô thấy hồ sơ vay hợp pháp, nên hai bên lập hợp đồng cầm cố số CĐ201907-002 ngày 19/7/2020, nội dung: Bên cho vay (bên nhận cầm cố): ông Đỗ Đình P1 - đại diện C1, bên vay (bên cầm cố) Kiều Văn H, thời hạn vay từ ngày 19/7/2020 đến 14/01/2021 với lãi suất 1,09%/01 tháng. Tài sản cầm cố là xe ô tô Kia Cerato, BKS: 19A-164.20, bản gốc giấy chứng nhận đăng ký tài sản cầm cố. Anh Đỗ Đình P2 ký tên và ghi họ tên dưới mục BÊN A; Kiều Văn H ký tên, ghi họ tên dưới mục BÊN B. Đồng thời hai bên lập văn bản thỏa thuận quản lý, sử dụng tài sản cầm cố, nội dung: Công ty T4 (Bên A) bàn giao lại tài sản cầm cố là chiếc xe Kia Cerato, BKS: 19A-164.20 cho Kiều Văn H (Bên B) trong thời gian cầm cố. Anh Đỗ Đình P2 ký tên và ghi họ tên dưới mục BÊN A; Kiều Văn H ký tên, ghi dòng họ tên dưới mục BÊN B đồng thời Công ty T4 viết phiều chi giải ngân cho H vay số tiền 250.000.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt của Công ty N2 sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Đến tháng 9/2020, H bán chiếc xe ô tô trên cho 01 người nam giới không quen biết với giá 150.000.000 đồng nhưng hai bên không lập hợp đồng mua bán. Quá trình cầm cố tài sản, H trả lãi cho Công ty T4 số tiền 24.100.000 đồng.
Lần thứ 2: Ngày 10/01/2020, Kiều Văn H đến cửa hàng X (địa chỉ: số I đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội) mua 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đỏ, BKS: 29G1-912.02, kèm theo chứng nhận đăng ký xe số 073722 mang tên chủ xe Bùi Quốc V1 (HKTT: Tổ F, tập thể R, phường P, quận T, Hà Nội) với giá là 79.000.000 đồng. Khi mua xe, hai bên viết giấy bán xe. Huấn sử dụng được một thời gian, nhưng do cần tiền chi tiêu, H nảy sinh ý định làm giả chứng nhận đăng ký xe để lừa đảo. Khoảng đầu tháng 8/2020, H truy cập vào mạng xã hội Facebook, chụp ảnh chứng nhận đăng ký xe thật và thuê đối tượng không quen biết làm giả 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô trên mang tên Bùi Quốc V1 với giá 3.000.000 đồng. Khoảng 07 ngày sau nhân viên chuyển phát nhanh (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) giao cho H 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đỏ, BKS: 29G1-912.02 mang tên chủ xe Bùi Quốc V1 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 22/5/2020. Ngày 19/8/2020, H đến Công ty T4 cung cấp 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô giả, 01 Giấy bán xe mà cửa hàng Tuấn A viết bán xe cho H ghi ngày 10/01/2020. Sau khi thẩm định hồ sơ, do không phát hiện giấy tờ giả nên anh Đỗ Đình P1 đã ký Hợp đồng cầm cố số CĐ 201908-006 ngày 19/8/2020, nội dung: Bên cho vay (bên nhận cầm cố): ông Đỗ Đình P1, bên vay (bên cầm cố) Kiều Văn H, thời hạn vay từ ngày 19/8/2020 đến 19/02/2021 với lãi suất 1,09%/01 tháng. Tài sản cầm cố là xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150, BKS: 29G1-912.02, bản gốc chứng nhận đăng ký tài sản cầm cố. Anh Đỗ Đình P2 ký tên và ghi họ tên dưới mục BÊN A; Kiều Văn H ký tên, ghi họ tên dưới mục BÊN B. Đồng thời hai bên lập văn bản thỏa thuận quản lý, sử dụng tài sản cầm cố, nội dung: Công ty T4 (Bên A) bàn giao lại tài sản cầm cố là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150, BKS: 29G1-912.02 cho Kiều Văn H (Bên B) trong thời gian cầm cố. Anh Đỗ Đình P2 ký tên và ghi họ tên dưới mục BÊN A; Kiều Văn H ký tên, ghi dòng họ tên dưới mục BÊN B đồng thời Công ty T4 viết phiếu chi giải ngân cho H vay số tiền 50.000.000 đồng. Khoảng tháng 10/2020, H bán chiếc xe máy trên cho một người không rõ nhân thân lai lịch với giá 60.000.000 đồng, khi bán xe hai bên không lập hợp đồng mua bán, không viết giấy biên nhận. Quá trình vay vốn, H đã trả lãi cho Công ty T4 số tiền 2.800.000 đồng.
Lần thứ 3: Ngày 12/4/2020, Kiều Văn H thuê 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Rio, BKS: 30A-874.14 của Công ty TNHH T5 (Địa chỉ: số A phố D, phường Y, quận C, Hà Nội - gọi tắt là Công ty T5) do anh Phan Ngọc T3 (sinh năm 1983) làm Giám đốc. Hai bên lập hợp đồng thuê xe, nội dung hợp đồng không ghi thời hạn thuê, giá thuê xe là 700.000 đồng/ngày, anh T3 giao xe ô tô cho H kèm theo bản sao có chứng thực chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Cty Yến Nhi do phòng C Công an thành phố H cấp ngày 05/10/2015. Khoảng tháng 8/2020, H gửi thông tin cá nhân và thuê đối tượng không quen biết trên mạng làm giả 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô trên với giá 3.000.000 đồng. Khoảng 07 ngày sau, nhân viên chuyển phát nhanh (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) giao cho H 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô nhãn hiệu Kia Rio, BKS: 30A-874.14 mang tên Kiều Văn H do Phòng C - Công an thành phố H cấp ngày 04/5/2018.
Ngày 26/8/2020, H đến Công ty T4 thế chấp chứng nhận đăng ký xe mô tô giả mang tên Kiều Văn H. Sau khi thẩm định hồ sơ vay và tài sản thế chấp, do không phát hiện chứng nhận đăng ký xe ô tô giả nên anh Đỗ Đình P1 lập Hợp đồng cầm cố số CĐ 202608-004 ngày 26/8/2020, nội dung: Bên cho vay (bên nhận cầm cố): ông Đỗ Đình P1 - đại diện C1, bên vay (bên cầm cố) Kiều Văn H, thời hạn vay từ ngày ký hợp đồng đến 26/02/2021 với lãi suất 1,09%/01 tháng. Tài sản cầm cố là xe ô tô nhãn hiệu Kia Rio, BKS 30A-874.14, bản gốc giấy chứng nhận đăng ký tài sản cầm cố. Anh Đỗ Đình P2 ký tên và ghi họ tên dưới mục BÊN A; Kiều Văn H ký tên, ghi họ tên dưới mục BÊN B. Đồng thời hai bên lập văn bản thỏa thuận quản lý, sử dụng tài sản cầm cố, nội dung: Công ty T4 (Bên A) bàn giao lại tài sản cầm cố là chiếc ô tô nhãn hiệu Kia Rio, BKS 30A-874.14, cho Kiều Văn H (Bên B) trong thời gian cầm cố. Anh Đỗ Đình P2 ký tên và ghi họ tên dưới mục BÊN A; Kiều Văn H ký tên, ghi dòng họ tên dưới mục BÊN B, cùng ngày Công ty T4 giải ngân cho H vay số tiền 180.000.000 đồng bằng hình thức chuyển tiền từ tài khoản số [...] mang tên Công ty T4 mở tại ngân hàng S đến tài khoản số [...] mang tên Kiều Văn H mở tại ngân hàng A2. Ngay sau khi chiếm đoạt được tiền của Công ty T4, H trả xe ô tô trên và thanh toán tiền thuê xe cho Công ty T5. Quá trình vay vốn, H đã trả lãi cho Công ty T4 số tiền 8.930.000 đồng.
Sau khi chiếm đoạt của Công ty T4 tổng số tiền 480.000.000 đồng. Kiều Văn H bỏ trốn, cắt mọi liên lạc với gia đình và Công ty T4.
Công ty T4 giao nộp 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato, BKS: 19A-614.20 mang tên Đỗ Quý N do Phòng C Công an tỉnh P cấp ngày 10/8/2017; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, BKS: 29G1-912.02 mang tên Bùi Quốc V1 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 22/5/2020; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 30A-874.14 mang tên Kiều Văn H do Phòng C - Công an thành phố H cấp ngày 04/5/2018; Hợp đồng mua bán xe ô tô đề ngày 03/6/2020 giữa bên bán Đỗ Quý N và bên mua Kiều Văn H; 01 Hợp đồng cho vay cầm cố số CĐ201907-002 ngày 19/7/2020 kèm theo phiếu chi, Văn bản thỏa thuận quản lý, sử dụng tài sản cầm cố ngày 19/7/2020; Hợp đồng cho vay cầm cố số CĐ201907-006 ngày 19/8/2020 kèm theo Phiếu chi, Văn bản thỏa thuận quản lý, sử dụng tài sản cầm cố ngày 19/8/2020; Hợp đồng cho vay cầm cố số CĐ201908-004 ngày 26/8/2020, Văn bản thỏa thuận quản lý, sử dụng tài sản cầm cố ngày 26/8/2020.
Tại bản kết luận giám định số 2654/KLGĐ-PC09 ngày 02/4/2021, của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: Chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 30A-874.14 cấp ngày 04/5/2018, tên chủ xe Kiều Văn H; Chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 19A-164-20, tên chủ xe Đỗ Quý N cấp ngày 10/8/2017; Chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 29G1-912.02 cấp ngày 22/5/2020, tên chủ xe Bùi Quốc V1 đều là giả.
Tại bản kết luận giám định số 9205/KLGĐ-PC09 ngày 29/12/2021, của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: “Chữ viết dòng họ tên Kiều Văn H tại các Hợp đồng cho vay cầm cố số CĐ201907-002 ngày 19/7/2020, số CĐ202608-004 ngày 26/8/2020, số CĐ201908-006 ngày 19/8/2020; Văn bản thỏa thuận về việc quản lý, sử dụng tài sản đang cầm cố ngày 19/7/2020 và ngày 26/8/2020; Giấy bán xe bên mua Kiều Văn H đề ngày 10/01/2020, Hợp đồng mua bán xe bên bản Đỗ Quý N, bên mua Kiều Văn H đề ngày 03/6/2020 là chữ do Kiều Văn H viết ra.
- - Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Kiều Văn H trên Hợp đồng mua bán xe đề ngày 03/6/2020; Phiếu chi đề ngày 19/7/2020 và ngày 19/8/2020 có phải Kiều Văn H ký ra hay không.
- -Hình dấu tròn Văn phòng công chứng Nguyễn T2 trên Hợp đồng công chứng mua bán xe đề ngày 03/6/2020 không phải do dấu của Văn phòng C2 đóng ra. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Trần Mạnh H4 trên Hợp đồng mua bán xe ngày 03/6/2020”.
Tại Bản kết luận giám định số số 1949/KL-KTHS ngày 18/3/2024, của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: “02 dấu in đường vân bên phải chữ viết Đỗ Quý N trong Hợp đồng mua bán xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato, BKS: 19A-164.20 đề ngày 03/6/2020 là dấu in đường vân ngón trỏ trái và ngón trỏ phải của Kiều Văn H; 02 dấu in đường vân bên phải chữ viết Kiều Văn H trong Hợp đồng mua bán xe đề ngày 03/6/2020 là dấu in đường vân ngón trỏ trái và ngón trỏ phải của Kiều Văn H”.
Tại Bản kết luận giám định số 2160/KL-KTHS ngày 26/3/2024, của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: “Không đủ cơ sở kết luận chữ ký, chữ viết của anh Đỗ Quý N trong Hợp đồng mua bán xe ngày 03/6/2020".
Kết quả xác minh nguồn gốc tài sản thế chấp như sau:
- - Đối với xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato, BKS 19A-164.20: Xác minh tại Công an tỉnh P xác định xe ô tô BKS 19A-164.20, chủ xe là Đỗ Quý N, đăng ký lần đầu ngày 18/8/2017. Kết quả tra cứu xe máy vật chứng tại Công an thành phố H xác định: Không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.
Tại Cơ quan điều tra, anh Đỗ Quý N khai: Năm 2017 anh N mua chiếc xe ô tô nhãn hệu Kia C, đăng ký BKS 19A-164.20. Ngày 11/8/2017 anh Nhân thế c xe ô tô trên tại ngân hàng V3 - chi nhánh P để vay số tiền 480.000.000 đồng, ngân hàng giữ chứng nhận đăng ký xe ô tô. Do không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngân hàng nên ngày 16/01/2018, anh N lập Hợp đồng ủy quyền cho anh Nguyễn Thế N1 có trách nhiệm thay mặt anh N trả tiền gốc, tiền lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp giữa anh N và ngân hàng đồng thời anh N giao chiếc xe ô tô trên cho N1 sử dụng, sau đó N1 sử dụng xe ô tô thế nào thì anh N không biết.
Xác minh nơi cư trú của Nguyễn Thế N1 tại Công an phường V, TP V, tỉnh Phú Thọ xác định: Nguyễn Thế N1 cùng gia đình đã bán nhà, không sinh sống ở địa phương. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm người đối với Nguyễn Thế N1.
Xác minh tại Phòng C3, tỉnh Phú Thọ xác định: Ngày 16/01/2018 Phòng C3 tỉnh Phú Thọ đã công chứng hợp đồng ủy quyền, nội dung anh Đỗ Quý N ủy quyền cho anh N1 trực tiếp liên hệ và làm các thủ tục trả tiền gốc và tiền lãi khoản tiền mà anh N vay theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1708070143092 với ngân hàng V3.
Xác minh tại Văn phòng C2, quận H, Hà Nội xác định: Văn phòng C2 có ông Trần Mạnh H4 là Công chứng viên. Ông H4 không ký, không cung cấp Hợp đồng công chứng ngày 03/6/2020.
Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm tài sản là chiếc xe ô tô nhãn hệu Kia C, BKS 19A-164.20 nhưng chưa thu giữ được.
- - Đối với xe ô tô nhãn hiệu Kia Rio, BKS 30A-874.14: Xác minh tại Công an thành phố H xác định xe ô tô nhãn hiệu Kia Rio, BKS 30A-874.14, chủ xe là Lê Ngọc B (trú tại đội 7, xã M, xã V, huyện B, Hà Nội), đăng ký lần đầu ngày 05/10/2015, đăng ký mới ngày 29/10/2020. Kết quả tra cứu xe máy vật chứng tại Công an thành phố H xác định: Không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.
- - Đối với xe mô tô nhãn hiệu SH, BKS 29G1-910.02: Xác minh tại Công an quận T xác định xe mô tô BKS 29G1-910.02, chủ xe là Bùi Quốc V1, đăng ký lần đầu ngày 28/11/2018. Kết quả tra cứu xe máy vật chứng tại Công an quận T và Công an quận T xác định: Không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.
Tại Cơ quan điều tra, anh Bùi Quốc V1 khai từ trước đến nay anh V1 không mua, không đăng ký sở hữu chiếc xe máy nào có nhãn hiệu SH, BKS 29G1-912.02.
Ông Phùng Tuấn A1 khai là chủ cửa hàng xe máy Tuấn A1 và thường xuyên mua bán các xe máy mới và cũ. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu SH, BKS 29G1-912.02 ông Tuấn A1 mua trên mạng Facebook của người không quen biết, khi mua có đầy đủ giấy đăng ký xe. Ngày 10/01/2020 ông Tuấn A1 bán chiếc xe trên kèm theo chứng nhận đăng ký xe cho Kiều Văn H với giá 79.000.000 đồng, hai bên viết giấy mua bán xe nhưng không lập hợp đồng công chứng.
Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu SH, BKS 29G1-912.02 nhưng chưa thu giữ được.
Sao kê tài khoản số [...] mang tên Kiều Văn H mở tại ngân hàng A2 xác định có giao dịch như nội dung vụ án nêu trên.
Kiều Văn H khai khi mua xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato, BKS: 19A-164.20 của Nguyễn Thế N1 thì N1 giao cho H chứng nhận đăng ký xe ô tô nhưng bị mờ nên H không sử dụng, hiện không nhớ để ở đâu. Quá trình điều tra xác định chứng nhận đăng ký xe ô tô trên đang do ngân hàng V3 chi nhánh tỉnh P giữ để bảo đảm cho khoản vay thế chấp. Do Nguyễn Thế N1 không có mặt ở nơi cư trú, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm người nhưng chưa có kết quả nên chưa có cơ sở làm rõ Nghiệp có thỏa thuận mua bán chiếc xe trên và có giao chứng nhận đăng ký xe ô tô trên cho H hay không. Với các tài liệu chứng cứ thu thập, chưa đủ căn cứ xác định Nguyễn Thế N1 có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức nên Cơ quan điều tra ra quyết định tách tài liệu liên quan đến hành vi trên để tiếp tục xác minh điều tra, xử lý.
Công ty TNHH T4 yêu cầu Kiều Văn H phải bồi thường số tiền 480.000.000 đồng.
2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thùy L số tiền 30.000.000 đồng.
Khoảng tháng 3/2021, Kiều Văn H đăng quảng cáo trên mạng xã hội facebook, H giới thiệu mình là giám đốc Công ty TNHH T6, có trụ sở tại xã Đ, huyện T, Hà Nội và cửa hàng tại số I đường P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do có nhu cầu mua sắm nội thất, qua mạng facebook chị Nguyễn Thùy L gọi điện thoại thỏa thuận thuê H lắp đặt nội thất cho cửa hàng của chị L tại số G phố T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi tư vấn, thỏa thuận, theo yêu cầu của H, ngày 23/3/2021 tại số D phố N, phường N, quận T, Hà Nội chị L đặt cọc cho H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản số [...] của chị Nguyễn Thùy L mở tại ngân hàng V4 đến tài khoản số [...] của H mở tại ngân hàng A2. Ngày 25/3/2021 H nhờ nhân viên một công ty đồ gỗ nội thất tại thành phố Hồ Chí Minh (Huấn không nhớ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) đến cửa hàng của chị L để đo đạc, tư vấn, thiết kế cho chị L đồng thời Huấn báo chi phí sản xuất, lắp đặt nội thất của chị L hết tổng số tiền 62.000.000 đồng. Theo yêu cầu của H, ngày 25/3/2021 chị L tiếp tục đặt cọc cho H số tiền 20.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản theo số tài khoản nêu trên. Sau khi nhận tổng số tiền 30.000.000 đồng, H không thực hiện thi công nội thất cho căn nhà của chị L theo thỏa thuận mà sử dụng chi tiêu cá nhân. Do nghi ngờ Huấn gian dối, ngày 27/3/2021 chị L tìm đến cơ sở sản xuất đồ gỗ tại xã Đ, huyện T, Hà Nội và số 95 đường P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì chị L phát hiện không có cơ sở sản xuất đồ gỗ như H giới thiệu. Chị L nhắn tin, gọi điện cho H thì H cắt liên lạc với chị L. Cùng ngày chị Nguyễn Thùy L có đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận T tố giác Kiều Văn H về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tại Cơ quan điều tra, H khai năm 2019 Sở kết hoạch đầu tư thành phố H cấp chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH T6 thi công đồ gỗ nội thất Gia V2, có địa chỉ tại thôn C, xã Đ, huyện T, Hà Nội do H làm Giám đốc. Tuy nhiên đến tháng 3/2021 Công ty của H không còn hoạt động nhưng H vẫn chụp ảnh chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đăng quảng cáo giới thiệu Huấn sản xuất, thi công đồ gỗ nội thất. Khi chị Nguyễn Thùy L gọi điện thoại thỏa thuận thuê lắp đặt nội thất cho cửa hàng của chị L thì H nhờ một công ty thiết kế nội thất tại thành phố Hồ Chí Minh cử nhân viên đến cửa hàng của chị L để đo, vẽ thiết kế nhằm tạo lòng tin cho chị L. Sau khi chị L chuyển khoản tổng số tiền 30.000.000 đồng thì H sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Chị L gọi điện thoại, nhắn tin hẹn gặp H tại cơ sở sản xuất tại T, Hà Nội và tại tỉnh Bình Dương thì H trốn tránh, cắt liên lạc với chị L.
Sao kê tài khoản số [...] mang tên Kiều Văn H mở tại ngân hàng A2 xác định có giao dịch như nội dung vụ án nêu trên.
Chị Nguyễn Thùy L yêu cầu Kiều Văn H phải bồi thường số tiền 30.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 299/CT-VKSHN–P3 ngày 20/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Kiều Văn H về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng quy kết. Bị cáo chấp nhận mức bồi thường theo yêu cầu của Công ty T4.
- - Đại diện hợp pháp của Công ty T4 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 480.000.000 đồng và xử lý bị cáo theo quy định.
- - Quan điểm Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đại diện viện kiểm sát đề nghị:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Kiều Văn H từ 12 đến 13 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, từ 3 đến 4 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt của 02 tội trong vụ án và hình phạt của các bản án trước để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.
Buộc bị cáo bồi thường Công ty T4 480.000.000 đồng, bồi thường chị L 30.000.000 đồng.
- - Người bào chữa cho bị cáo đồng ý tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do Đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có công với cách mangh để xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa, Kiều Văn H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng quy kết; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định:
Kiều Văn H là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định. Lợi dụng quy định về việc cầm cố tài sản để cho vay của Công ty T4 cho khách hàng vay tiền, H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của Công ty T4. Từ tháng 3/2020 đến tháng 8/2020 H mua 01 xe ô tô, 01 xe mô tô SH và thuê 01 xe ô tô sau đó H thuê đối tượng không quen biết trên mạng làm giả 04 tài liệu gồm 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô Biểm kiểm soát 19A-614.20 mang tên Đỗ Quý N, 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, Biểm kiểm soát 29G1-912.02 mang tên Bùi Quốc V1, 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô Biểm kiểm soát 30A-874.14 mang tên Kiều Văn H, 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô đề ngày 03/6/2020 giữa bên bán Đỗ Quý N và bên mua Kiều Văn H, sau đó H mang thế chấp cho Công ty T4 để vay tổng số tiền 480.000.000 đồng. Sau khi vay được tiền, H bán 01 xe ô tô và 01 xe mô tô cho đối tượng không quen biết và trả lại Công ty TNHH T5 đã thuê. Ngoài ra, tháng 3/2021 H đăng thông tin trên Facebook giới thiệu mình là giám đốc Công ty TNHH T6. Chị Nguyễn Thùy L gọi điện thoại thuê H lắp đặt nội thất cho cửa hàng của chị L tại số G phố T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo yêu cầu của H, từ ngày 23/3/2021 đến ngày 25/3/2021 chị L đặt cọc bằng hình thức chuyển khoản đến tài khoản của H tổng số 30.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt của 02 bị hại tổng số tiền 510.000.000 đồng, H chi tiêu cá nhân hết rồi bỏ trốn.
Với hành vi nêu trên, Kiều Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174, Điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính và quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm suy giảm hiệu lực quản lý của cơ quan hành chính nhà nước, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn, bị cáo phạm tội nhiều lần và lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, gia đình có công với cách mạng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo phạm nhiều tội nên cần tổng hợp để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.
Bản án số 610/2022/HSPT ngày 26/7/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Bản án số 702/2022/HSPT ngày 24/8/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 14 năm 06 tháng tù về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Trộm cắp tài sản”, “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”; Bản án số 1047/2022/HSPT ngày 08/12/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm 06 tháng tù về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù tại Bản án số 70/2018/HSST ngày 25/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, hình phạt chung của 02 bản án là 09 năm 06 tháng tù. 03 bản án nêu trên được tổng hợp theo Quyết định số 09/2023/QĐ-CA ngày 10/5/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, hình phạt chung sau khi tổng hợp là 25 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/8/2021, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 10/6/2018 đến ngày 08/8/2018. Vì vậy, cần tổng hợp với hình phạt tại bản án này để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.
[3] Về trách nhiệm dân sự.
Kết quả tranh tụng xác định bị cáo chiếm đoạt của Công ty T4 480.000.000 đồng. Chiếm đoạt của chị Nguyễn Thùy L 30.000.000 đồng đến nay chưa bồi thường.
Bị cáo và Công ty T4 thỏa thuận mức bồi thường là 480.000.000 đồng. Sự thỏa thuận giữa các bên là tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên được ghi nhận.
Cần buộc bị cáo bồi thường chị L toàn bộ số tiền chiếm đoạt.
[4] Về án phí, quyền kháng cáo.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm; người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Kiều Văn H phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Kiều Văn H 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 03 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Tổng hợp hình phạt 15 năm tù nêu trên với hình phạt 25 năm 06 tháng tù tại Quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án số 09/2023/QĐ-CA ngày 10/5/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội. Buộc Kiều Văn H phải chấp hành hình phạt chung là 30 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/8/2021, được trừ thời giam tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2018 đến ngày 08/8/2018.
- Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc Kiều Văn H bồi thường:
- - Công ty Cổ phần T4 480.000.000 đồng;
- - Chị Nguyễn Thùy L 30.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N3 công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 24.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, Công ty Cổ phần T4 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thùy L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Nhã |
Bản án số 402/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản; làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 402/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiều Văn H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
