Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 402/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27-9-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Lương Thiện.
  2. Ông Trần Hữu Hậu.

Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 1685/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 295/2024/QĐXXST – HNGĐ, ngày 09 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 421/2024/ QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Cao Thanh L, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình.

- Bị đơn: Bà Đinh Thị Hồng V, sinh năm 1977.

Địa chỉ: E, tổ E, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông L có đơn xin xét xử vắng mặt, bà V vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Cao Thanh L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Đinh Thị Hồng V kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 03/12/1995. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về tiền bạc, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành. Nay ông nhận thấy không còn tình cảm với bà V, mâu thuẫn không thể hòa giải hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà V.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà V có 01 con chung là Cao Thị Mỹ L1, sinh ngày 16/6/1998. Ly hôn, chị L1 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đinh Thị Hồng V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến, không đến Toà án để tham gia tố tụng.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Cao Thanh L. Cho ông L ly hôn với bà Đinh Thị Hồng V.

Về con chung: Chị L1 đã trưởng thành trên 18 tuổi, có khả năng lao động, ông L không yêu cầu xem xét giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Ông L trình bày tự thỏa thuận, chưa lấy được ý kiến của bà V nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Ông L trình bày không có, chưa lấy được ý kiến của bà V nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông Cao Thanh L khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn bà Đinh Thị Hồng V. Tại văn bản xác minh đề ngày 12/7/2024 do Công an phường L, thành phố B cung cấp thể hiện bà V có nơi cư trú tại: E, tổ E, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà V nhưng bà V không đến Toà án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, các phiên toà xét xử mà không có lý do; Nguyên đơn ông L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông L, bà V.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Cao Thanh L và bà Đinh Thị Hồng V kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 03/12/1995, nên là hôn nhân hợp pháp theo Điều 5, Điều 6, Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.

Theo trình bày của ông L thì quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về tiền bạc, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành. Nay ông L nhận thấy không còn tình cảm với bà V, mâu thuẫn không thể hòa giải hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông L vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà V. Toà án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa ông L, bà V. Tại biên bản xác minh ngày 12 tháng 7 năm 2024, địa phương không cung cấp được thông tin mâu thuẫn vợ chồng do ông L, bà V không trình báo với địa phương.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập bà V đến tham gia phiên hòa giải, các phiên tòa nhưng bà V đều vắng mặt không có lý do chứng tỏ bà V bỏ mặc, không mong muốn bảo vệ và duy trì hôn nhân với ông L. Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông L, bà V lâm vào tình trạng trầm trọng. Bà V không có thiện chí hoặc biện pháp để hàn gắn gia đình, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, nay ông L xin ly hôn với bà V là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, ông L và bà V có 01 con chung là Cao Thị Mỹ L1, sinh ngày 16/6/1998. Chị L1 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Ông L trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của bà V nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Ông L trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của bà V nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí: Ông L phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

[4] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà thì thấy phù hợp với tài liệu, chứng cứ, quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 5, Điều 6, Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986;
  • Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao Thanh L, cho ông Cao Thanh L được ly hôn với bà Đinh Thị Hồng V.
  2. Về con chung: Chị Cao Thị Mỹ L1, sinh ngày 16/6/1998 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí sơ thẩm: Ông Cao Thanh L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí ông L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà theo biên lai thu số 0004367 ngày 25 tháng 6 năm 2024 (Ông L đã nộp xong).
  6. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP.Biên Hoà;
  • - UBND xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình;
  • - Chi cục THADS TP.Biên Hoà;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 402/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 402/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Thanh Lai ly hôn với Đinh Thị Hồng Vân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger