TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 402/2024/HNGĐ-ST Ngày 16/04/2024 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoài
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Văn Dương
- Ông Nguyễn Văn Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi - Thư ký Tòa án án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.
Ngày 16 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 1111/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023, về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 03 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hải V, sinh năm 1989; địa chỉ: số B đường P, Tổ B, Khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986; địa chỉ: số B, đường F, ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 28 tháng 08 năm 2023 và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị Hải V trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyển số 01/2012 ngày 27 tháng 4 năm 2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, nhưng đến năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bị đơn có người phụ nữ khác bên ngoài, thường xuyên uống rượu, không có trách nhiệm với gia đình và không phụ cấp nuôi con. Năm 2018 nguyên đơn đã từng nộp đơn xin ly hôn nhưng sau đó rút lại đơn khởi kiện để cho bị đơn cơ hội thay đổi bản thân, vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái, tuy nhiên bị đơn không thay đổi tâm tính, mâu thuẫn kéo dài không giải quyết được nên vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
Về con chung: nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung Nguyễn Lê H, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2012. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, mức cấp dưỡng nuôi nguyên đơn tự thỏa thuận với bị đơn.
Về tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc bà Lê Thị Hải V yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về yêu cầu của các đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyển số 01/2012 ngày 27 tháng 4 năm 2012 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Hải V và ông Nguyễn Văn Đ là hợp pháp.
- Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng. Nguyên đơn đã từng rút lại đơn khởi kiện để cho bị đơn cơ hội sửa đổi bản thân nhưng bị đơn không thay đổi tâm tính. Tòa án đã nhiều lần động viên nguyên đơn hàn gắn tình cảm nhưng nguyên đơn từ chối; bị đơn nhiều lần nhận được giấy triệu tập nhưng không đến Tòa án để hòa giải; tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt. Điều đó chứng tỏ nguyên đơn và bị đơn không còn tha thiết với việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, để trở về đoàn tụ, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình.
Xét thấy, hôn nhân phải là sự tự nguyện từ hai phía, vợ chồng phải yêu thương tôn trọng lẫn nhau, thống nhất với nhau về suy nghĩ và quan điểm sống, các bên phải quý trọng, chia sẻ, bàn bạc giải quyết các vấn đề chung trong cuộc sống, tuy nhiên, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn là có cơ sở chấp nhận.
- Xét yêu cầu nuôi con của nguyên đơn:
Căn cứ Giấy khai sinh số 244, quyển số 02/2012 của Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 24 tháng 08 năm 2012, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn có một con chung Nguyễn Lê H, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2012, xét thấy, thời gian các đương sự sống ly thân đến nay, trẻ H được mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, tại bản tự khai ngày 15 tháng 11 năm 2023, trẻ H có nguyện vọng sống với mẹ nên việc nguyên đơn đề nghị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là có cơ sở chấp nhận.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Tại phiên họp ngày 07 tháng 03 năm 2024, nguyên đơn xin thay đổi yêu cầu về việc nguyên đơn sẽ tự thỏa thuận với bị đơn về mức cấp dưỡng nuôi con, xét thấy, đây là ý chí và sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81,82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hải V được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
Giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyển số 01/2012 ngày 27 tháng 4 năm 2012 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh hết hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Lê H, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2012 cho bà Lê Thị Hải V trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do các đương sự tự thỏa thuận.
Ông Nguyễn Văn Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống với người trực tiếp nuôi dưỡng.
Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Lê Thị Hải V phải nộp, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0018227 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị Hải V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoài |
Bản án số 402/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 402/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Hải V - Nguyễn Văn Đ
