Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 402/2025/DS-PT

Ngày: 04/06/2025

V/v Tranh chấp đòi tài sản

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diệp Linh

Các Thẩm phán: Bà Đặng Mai Hoa

Ông Đàm Văn Thuận

- Thư ký phiên tòa: Ông Ninh Việt Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Bà Nguyễn Phương Dung - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 20 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 86/2025/TLST-DS ngày 17.02.2025 về việc “Tranh chấp đòi tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 183/2024/DS–ST ngày 31.10.2024 và ngày 22.11.2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 329A/2025/QĐPT-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 366A/2025/QĐPT-HPTDS ngày 21 tháng 05 năm 2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Anh T, sinh năm 1986; Địa chỉ: E tổ C, phường H, quận H, TP Hà Nội (Nay là là số 32A, ngõ A đường H, tổ A H); Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Tất T1, sinh năm 1976 theo giấy uỷ quyền lập ngày 30/07/2024 tại phòng C. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1984. Địa chỉ cư trú: Căn hộ S Tòa nhà S đường T, phường V, quận H, TP .. (có mặt)

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Viết Đ theo Giấy ủy quyền lập ngày 30/07/2024 tại văn phòng C1. (có mặt)

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Như H – Luật sư văn phòng luật sư D – Nguyễn và cộng sự - Đoàn luật sư thành phố H. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Bùi Phương T2, sinh năm 1986. Nơi cư trú: E tổ C, phường H, quận H, thành phố Hà Nội (nay là số C, ngõ A đường H, tổ A phường H). Đại diện theo uỷ quyền : Ông Đặng Tất T1, sinh năm 1976 theo giấy uỷ quyền lập ngày 30/07/2024 tại văn phòng C2. (có mặt)

2. Ông Nguyễn Viết D1, sinh năm 1982. (có mặt)

3. Cháu Nguyễn Viết Duy A, sinh năm 2008.

4. Cháu Nguyễn Viết Minh T3, sinh năm 2014

Cùng cư trú: Căn hộ S Tòa nhà S đường T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội.

Bà Phạm Thị Bình/ông Nguyễn Viết D1 là người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Viết Duy A và Nguyễn Viết Minh T3.

Do có kháng cáo ngày 05.12.2024 của bị đơn bà Phạm Thị B – là bị đơn; và ngày 09.12.2024 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Viết D1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:

Theo khởi kiện và các bản tự khai, nguyên đơn là ông Phạm Anh T và người đại diện theo uỷ quyền là ông Đặng Tất T1 thống nhất trình bày:

Ngày 29.3.2014 vợ chồng ông Phạm Anh T và bà Bùi Phương T2 ký hợp đồng mua bán nhà xã hội, dự án Tòa nhà S T, phường V, quận H thành phố Hà Nội số 250/HĐMB-NƠXH với Công ty cổ phần Đ2 với nội dung mua căn hộ có Ký hiệu căn hộ E2 tầng 33 diện tích 69,90 m² với giá 1.048.430.100 đồng, đã thanh toán cho chủ đầu tư số tiền 348.430.100 đồng, số tiền còn lại là vay vốn hỗ trợ dự án đầu tư là 700.000.000 đồng tại Ngân hàng N chi nhánh H2 – phòng giao dịch số 6 trên cơ sở Hợp đồng tín dụng ký ngày 14.7.2014 giữa bên cho vay (Bên A) do bà Nguyễn Thị P – Giám đốc phòng G với bên vay ( Bên B) là bà Bùi Phương T2. Để đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thì ngày 27.6.2014 bên nhận thế chấp là Ngân hàng N chi nhánh H2 – phòng G do bà Nguyễn Thị P – giám đốc và bên thế chấp là bà Bùi Phương T2 /ông Phạm Anh T ký Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số công chứng 2670 quyển số: 02.2014/CC-SCC/HĐGD do công chứng viên, văn phòng C2 chứng nhận ngày 27.6.2014.

Ngày 5.12.2015 bà Bùi Phương T2 và ông Phạm Anh T nhận bàn giao căn hộ C Tòa nhà S T.

Ngày 18.6.2020 tại Đ3 tại Lào, ông Phạm Anh T (bên A)và bà Bùi Phương T2 (bên B) ký hợp đồng uỷ quyền hai nơi với nội dung: Bên A uỷ quyền cho bên B thay mặt bên A toàn quyền tự quyết định và toàn quyền tự thực hiện các thủ tục, công việc liên quan đến căn hộ bao gồm: Tất toán khoản vay, sử dụng, cho thuê, làm sổ đỏ/sổ hồng, mua bán, sang tên, chuyển nhượng căn hộ nói trên theo quy định của pháp luật...

Ngày 8.8.2020 bà Bùi Phương T2 và bà Phạm Thị B có ký “Văn bản cam kết về việc mua bán căn hộ chung cư” và ký “ Vi bằng” ghi nhận việc thoả thuận cam kết chuyển nhượng căn hộ C Tòa nhà S T với nội dung bán căn hộ nêu trên với giá 1.274.000.000 đồng.

Việc bà Bùi Phương T2 ký và bà Phạm Thị B ký kết các văn bản trên không thông báo với ông T. Cuối năm 2022 ông về nước sinh sống, khi biết việc bà T2 ký văn bản cam kết chuyển nhượng căn hộ với bà B, ông không đồng ý thực hiện theo thoả thuận vì bản thân ông không uỷ quyền cho bà T2 ký “Văn bản cam kết về việc mua bán căn hộ chung cư” và ký “ Vi bằng”. Hơn nữa, căn hộ mà vợ chồng ông mua không đủ điều kiện giao dịch chuyển nhượng theo quy định của pháp luật vì: căn hộ đang thế chấp tại ngân hàng; căn hộ thuộc dự án nhà ở xã hội nên theo quy định tại khoản 4 Điều 62 Luật nhà ở 2014 và khoản 4 điều 19 Nghị định 100/2015 NĐ-CP: Nhà ở xã hội chỉ được phép chuyển nhượng lại khi đạt thời hạn mua tối thiểu là 05 năm kể từ thời điểm tất toán toàn bộ khoản tiền mua nhà ở đó.

Ngày 30.03.2024, vợ chồng ông đã được Văn phòng Đ4 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 304773 đối với căn hộ 3308 tại Tòa nhà S T.

Ông đã yêu cầu gia đình bà B trả lại nhà nhiều lần nhưng bà B không đồng ý. Vợ chồng ông nhiều lần thiện chí hoà giải nhưng phía bà B không hợp tác. Vì vậy, ông khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân quận Hà Đông: Buộc bà Phạm Thị B trả lại vợ chồng ông căn hộ chung cư S Tòa nhà S T có diện tích sàn 64,9m² ( sở hữu riêng) thuộc thửa đất số 3 tờ bản đồ số 15 dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, số A T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội diện tích sử dụng chung 1450m² nói trên.

Ông thừa nhận số tiền bà Bùi Phương T2 vợ ông đã nhận của bà Phạm Thị B1 Nguyễn Viết D1 là 1.183.000.000 đồng (bao gồm số tiền trực tiếp nhận từ bà B là 914.265.000 đồng và khoản dư nợ tại ngân hàng mà bà B đã trả thay là 268.735.000). Để giải quyết dứt điểm vụ án và hỗ trợ cho gia đình bà B, vợ chồng ông tự nguyện hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã nhận và hỗ trợ chi phí trượt giá và chi phí cải tạo căn hộ là 500.000.000 đồng. Ông chỉ đồng ý hỗ trợ 500.000.000đ trong trường hợp gia đình bà B thống nhất thoả thuận.

Bị đơn bà Phạm Thị B và đại diện theo uỷ quyền là ông Nguyễn Viết Đ1 Đoàn Thị Hồng H1 cùng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Viết Đ1 thống nhất trình bày:

Bà Phạm Thị Bình/ông Nguyễn Viết D1 xác nhận do tại thời điểm giao dịch, căn hộ C Tòa nhà S T chưa đủ điều kiện để sang tên nên ngày 08.08.2020, bà Phạm Thị B và bà Bùi Phương T2 có ký “Văn bản cam kết về việc mua bán căn hộ chung cư” và ký “ Vi bằng” với nội dung bà Bùi Phương Thúy T2 chuyển nhượng căn hộ E2, tầng C (nay là căn hộ C), diện tích 69.9m2 thuộc dự án nhà xã hội Tòa nhà S đường T, quận H, thành phố Hà Nội cho bà Phạm Thị B với giá 1.274.000.000 đồng. Tại thời điểm ký văn bản cam kết này thì căn hộ chung cư S Tòa nhà S T đang thế chấp ngân hàng và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. “Văn bản cam kết về việc mua bán căn hộ chung cư” và “ Vi bằng” do bà Phạm Thị B ký với bà Bùi Phương T2 vì tại thời điểm 8.8.2020 ông Phạm Anh T không có ở Việt Nam nhưng ông T đã ký Hợp đồng uỷ quyền hai nơi cho bà T2 với nội dung: Bên A uỷ quyền cho bên B thay mặt bên A toàn quyền tự quyết định và toàn quyền tự thực hiện các thủ tục, công việc liên quan đến căn hộ bao gồm: Tất toán khoản vay, sử dụng, cho thuê, làm sổ đỏ/sổ hồng, mua bán, sang tên, chuyển nhượng căn hộ nói trên theo quy định của pháp luật... Bà Phạm Thị Bình/ông Nguyễn Viết D1 đã thanh toán cho bà Bùi Phương T2 tổng số tiền là 1.005.265.000 đồng (Một tỷ năm triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) và thanh toán cho ngân hàng A2 268.735.000 đồng, nhận căn hộ 3308 Toà nhà SDU 143 T, sinh sống ổn định và có sửa chữa lại căn hộ để phù hợp với nhu cầu sinh sống của gia đình.

Nay, ông Phạm Anh T khởi kiện yêu cầu gia đình bà Phạm Thị B trả lại căn hộ đã chuyển nhượng là hoàn toàn vô lý và không có căn cứ vì:

Thứ nhất: Về giá trị pháp lý của HĐ ủy quyền giữa ông T và bà T2. Hợp đồng ủy quyền 2 nơi số chứng nhận: 10/2020/HĐUQ, quyển số 01 được chứng nhận bởi Đ3 tại Lào ngày 18/06/2020 và số công chứng: 1901/2020 Quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD chứng nhận bởi Công chứng viên Văn Phòng số 6 TP Hà Nội ngày 23/6/2020 ghi nhận ông Phạm Anh T và bà Bùi Phương T2 là vợ chồng và đồng sở hữu căn hộ có thông tin nêu ở trên. Ông T ủy quyền cho bà T2 « TOÀN QUYỀN TỰ QUYẾT ĐỊNH VÀ THỰC HIỆN các thủ tục, công việc liên quan đến căn hộ bao gồm: Tất toán khoản vay, sử dụng, cho thuê, làm sổ đỏ/sổ hồng, MUA BÁN, SANG TÊN, CHUYỀN NHƯỢNG căn hộ nói trên theo quy định của pháp luật ». Ông T cho rằng việc vợ mình là bà T2 ký cam kết chuyển nhượng căn hộ với bà B là không hợp pháp do trong giấy ủy quyền mà ông T ủy quyền cho vợ mình đối với căn hộ có thông tin nêu trên không có nội dung ủy quyền này là không đúng. Thời điểm ký văn bản ông T biết về nội dung chuyển nhượng, biết về tình trạng căn hộ, đồng ý về việc chuyển nhượng, đồng thời ký ủy quyền cho bà T2.

Thứ hai: Các bên đã thực hiện việc chuyển nhượng và để đảm bảo thủ tục đăng ký sang tên và thanh toán bà T2 và bà B đã ký văn bản thoả thuận. Bà B đã thanh toán trên 90% giá trị căn hộ theo thỏa thuận. Bà B đã được bàn giao nhà và cả gia đình đã chuyển về sinh sống từ khi bàn giao cho đến nay.

Trong quá trình sử dụng để đảm bảo sinh hoạt nên bà Phạm Thị Bình/ông Nguyễn Viết D1 đã sửa chữa cải tạo căn hộ bao gồm: Sửa chữa khu bếp, lát sàn gỗ phòng khách và ốp vách nhựa xung quan phòng ngủ.

Bà Phạm Thị B /ông Nguyễn Viết D1 đề nghị vợ chồng bà Bùi Phương T4 Phạm Anh T thực hiện việc sang tên căn hộ S Tòa nhà S T đã nhận chuyển nhận cho vợ chồng bà Phạm Thị Bình/ông Nguyễn Viết D1. Do không đồng ý với yêu cầu khởi kiện đòi nhà nên bà Phạm Thị Bình/ông Nguyễn Viết D1 không yêu cầu giải quyết về chi phí cải tạo căn hộ.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Phương T2 và đại diện theo uỷ quyền là ông Đặng Tất T1 thống nhất trình bày:

Bà Bùi Phương T2 hoàn toàn thống nhất với lời khai và yêu cầu khởi kiện của chồng bà là ông Phạm Anh T.

Bà Bùi Phương T2 thừa nhận do không hiểu biết pháp luật nên bà có ký “Văn bản cam kết” về việc mua bán căn hộ chung cư và ký “vi bằng” ghi nhận việc thoả thuận cam kết chuyển nhượng căn hộ C Tòa nhà S T với bà Phạm Thị B. Tuy nhiên, tại thời điểm ký các văn bản nói trên, bà Bùi Phương T2 không thông báo cho chồng bà là ông Phạm Anh T biết, số tiền 914.265.000 đồng nhận của bà Phạm Thị B, bà giữ lại làm tài sản riêng và không nói cho ông T cũng không chỉ tiêu gì cho gia đình. Cuối năm 2022, khi ông T về nước thì bà T2 mới thông báo nhưng ông T đã không đồng ý, yêu cầu bà phải đòi lại nhà để gia đình có nơi ở ổn định. Vợ chồng bà đã nhiều lần yêu cầu gia đình bà B trả lại nhà và đưa ra nhiều phương án thoả thuận giải quyết nhưng không được gia đình bà B đồng ý.

Nay ông T khởi kiện, bà không có ý kiến nào khác, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Để giải quyết dứt điểm vụ án và hỗ trợ cho gia đình bà B, vợ chồng bà tự nguyện hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã nhận và hỗ trợ chi phí trượt giá và chi phí cải tạo căn hộ là 500.000.000 đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 183/2024/DS–ST ngày 31.10.2024 và ngày 22.11.2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Anh T đối với bà Phạm Thị B về việc đòi lại căn hộ chung cư S Tòa nhà S T có diện tích sàn 64,9m² (sở hữu riêng) thuộc thửa đất số 3 tờ bản đồ số 15 dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, số A T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội đã được Văn phòng Đ4 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 304773 ngày 30/3/2024 mang tên người sử dụng là bà Bùi Phương T2 và ông Phạm Anh T hiện do vợ chồng bà Phạm Thị Bình/ông Nguyễn Viết D1 và các con đang quản lý sử dụng.

2. Buộc bà Phạm Thị Bình/ông Nguyễn Viết D1 và hai con là Nguyễn Viết Duy A, Nguyễn Viết Minh T3 phải trả lại toàn bộ diện tích căn hộ chung cư số C Tòa nhà S T có diện tích sàn 64,9m² (sở hữu riêng) thuộc thửa đất số 3 tờ bản đồ số 15 dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, số A T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội cho ông Phạm A1 Tú/bà Bùi Phương T2.

2. Ghi nhận sự tự nguyện của vợ chồng bà Bùi Phương T4 Phạm Anh T hoàn trả lại cho vợ chồng bà Phạm Thị Bình/ông Nguyễn Viết D1 số tiền đã nhận là 914.265.000 đồng; Số tiền gốc dư nợ tại Ngân hàng kể từ ngày 8.8.2020 đến khi tất toán khoản vay là 268.735.485 và số tiền lãi là 26.440.700 đồng; hỗ trợ trượt giá và chi phí cải tạo căn hộ là 500.000.000 đồng. Tổng số tiền là 1.709.441.185 đồng.

3. Giành quyền khởi kiện bằng vụ án khác cho bà Phạm Thị B trong trường hợp bà Phạm Thị B có yêu cầu giải quyết việc ký “Văn bản cam kết ký ” với bà Bùi Phương T2 khi có tài liệu chứng cứ khác với nội dung vụ án này.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 05.12.2024 bị đơn bà Phạm Thị B và ngày 09.12.2024 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Viết D1 đã kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 183/2024/DS–ST ngày 31.10.2024 và ngày 22.11.2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự có mặt tại phiên tòa thống nhất tự thỏa thuận với nhau như sau: Nguyên đơn ông Nguyễn Anh T5 sẽ thanh toán cho bị đơn bà Phạm Thị B số tiền 2.450.000.000đ (hai tỉ bốn trăm năm mươi triệu đồng) và bên bị đơn là bà Phạm Thị B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Viết D1 cùng hai con là Nguyễn Viết Duy A và Nguyễn Viết Minh T3 sẽ trả lại toàn bộ diện tích nhà đang tranh chấp là căn hộ chung cư S Tòa nhà S T có diện tích sàn 64,9m² ( sở hữu riêng) thuộc thửa đất số 3 tờ bản đồ số 15 dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, số A T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội đã được Văn phòng Đ4 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 304773 ngày 30/3/2024 mang tên người sử dụng là bà Bùi Phương T2 và ông Phạm Anh T hiện do vợ chồng bà Phạm Thị Bình/ông Nguyễn Viết D1 và các con đang quản lý sử dụng cho nguyên đơn ông Phạm A1 Tú/bà Bùi Phương T2 trong thời hạn đến ngày 23.06.2025. Ngoài ra, bên nguyên đơn sẽ thanh toán cho bị đơn các chi phí đồ đạc mà nguyên đơn muốn giữ lại liên quan đến các thiết bị lắp đặt, các bên sẽ tự thỏa thuận về giá.

Về án phí: nguyên đơn tự nguyện chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm mà bản án sơ thẩm đã tuyên.

Ngoài ra, các bên không có thỏa thuận gì khác, đề nghị tòa án ghi nhận sự thỏa thuận trên của các bên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà các bên đã thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, việc thỏa thuận là tự nguyện và không trái với quy định của pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên. Áp dụng khoản 02 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm 183/2024/DS–ST ngày 31.10.2024 và ngày 22.11.2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên như sau: Nguyên đơn ông Nguyễn Anh T5 sẽ thanh toán cho bị đơn bà Phạm Thị B số tiền 2.450.000.000đ (hai tỉ bốn trăm năm mươi triệu đồng) và bên bị đơn là bà Phạm Thị B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Viết D1 cùng hai con là Nguyễn Viết Duy A và Nguyễn Viết Minh T3 sẽ trả lại toàn bộ diện tích nhà đang tranh chấp là căn hộ chung cư S Tòa nhà S T có diện tích sàn 64,9m² ( sở hữu riêng) thuộc thửa đất số 3 tờ bản đồ số 15 dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, số A T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội đã được Văn phòng Đ4 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 304773 ngày 30/3/2024 mang tên người sử dụng là bà Bùi Phương T2 và ông Phạm Anh T hiện do vợ chồng bà Phạm Thị Bình/ông Nguyễn Viết D1 và các con đang quản lý sử dụng cho nguyên đơn ông Phạm A1 Tú/bà Bùi Phương T2 trong thời hạn đến ngày 23.06.2025. Ngoài ra, bên nguyên đơn sẽ thanh toán cho bị đơn các chi phí đồ đạc mà nguyên đơn muốn giữ lại liên quan đến các thiết bị lắp đặt, các bên sẽ tự thỏa thuận về giá.

Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm mà bản án sơ thẩm đã tuyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Viết D1 đảm bảo về chủ thể, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thống nhất đề nghị tòa án ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận như sau:

Nguyên đơn ông Nguyễn Anh T5 sẽ thanh toán cho bị đơn bà Phạm Thị B số tiền 2.450.000.000đ (hai tỉ bốn trăm năm mươi triệu đồng) và bên bị đơn là bà Phạm Thị B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Viết D1 cùng hai con là Nguyễn Viết Duy A và Nguyễn Viết Minh T3 sẽ trả lại toàn bộ diện tích nhà đang tranh chấp là căn hộ chung cư S Tòa nhà S T có diện tích sàn 64,9m² (sở hữu riêng) thuộc thửa đất số 3 tờ bản đồ số 15 dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, số A T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội đã được Văn phòng Đ4 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 304773 ngày 30/3/2024 mang tên người sử dụng là bà Bùi Phương T2 và ông Phạm Anh T hiện do vợ chồng bà Phạm Thị Bình/ông Nguyễn Viết D1 và các con đang quản lý sử dụng cho nguyên đơn ông Phạm A1 Tú/bà Bùi Phương T2 trong thời hạn đến ngày 23.06.2025. Ngoài ra, bên nguyên đơn sẽ thanh toán cho bị đơn các chi phí đồ đạc mà nguyên đơn muốn giữ lại liên quan đến các thiết bị lắp đặt, các bên sẽ tự thỏa thuận về giá.

Về án phí: nguyên đơn tự nguyện chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm mà bản án sơ thẩm đã tuyên.

Xét thấy việc thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện và không trái với quy định của pháp luật nên được ghi nhận.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Từ những phân tích, nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy cần sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 183/2024/DS–ST ngày 31.10.2024 và ngày 22.11.2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên.

Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;

Xử:

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 183/2024/DS–ST ngày 31.10.2024 và ngày 22.11.2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, ghi nhận sự thỏa thuận của các bên, cụ thể như sau:

  1. Nguyên đơn ông Nguyễn Anh T5 sẽ thanh toán cho bị đơn bà Phạm Thị B số tiền 2.450.000.000đ (hai tỉ bốn trăm năm mươi triệu đồng) và bên bị đơn là bà Phạm Thị B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Viết D1 cùng hai con là Nguyễn Viết Duy A và Nguyễn Viết Minh T3 sẽ trả lại toàn bộ diện tích nhà đang tranh chấp là căn hộ chung cư S Tòa nhà S T có diện tích sàn 64,9m² (sở hữu riêng) thuộc thửa đất số 3 tờ bản đồ số 15 dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, số A T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội đã được Văn phòng Đ4 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 304773 ngày 30/3/2024 mang tên người sử dụng là bà Bùi Phương T2 và ông Phạm Anh T hiện do vợ chồng bà Phạm Thị Bình/ông Nguyễn Viết D1 và các con đang quản lý sử dụng cho nguyên đơn ông Phạm A1 Tú/bà Bùi Phương T2 trong thời hạn đến ngày 23.06.2025. Ngoài ra, bên nguyên đơn sẽ thanh toán cho bị đơn các chi phí đồ đạc mà nguyên đơn muốn giữ lại liên quan đến các thiết bị lắp đặt, các bên sẽ tự thỏa thuận về giá.
  2. Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phạm Anh T chịu 300.000₫ tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0044005 ngày 16 tháng 07 năm 2024 tại Cơ quan Thi hành án dân sự quận H.

    Bà Phạm Thị B và ông Nguyễn Viết D1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả bà B số tiền 300.000đ đã nộp tại biên số 0044662 ngày 25.12.2024 và hoàn trả ông D1 số tiền 300.000₫ đã nộp tại biên số 0044663 ngày 25.12.2024 tại Cơ quan Thi hành án dân sự quận Hà Đông

  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND quận Hà Đông;
  • - Chi cục THADS quận Hà Đông;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Diệp Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 402/2025/DS-PT ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 402/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger