Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 402/2023/HS-PT

Ngày: 28-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn

Các Thẩm phán: 1/ Ông Bùi Đức Nam

2/ Ông Lê Công Huân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Xuân- Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 377/2023/TLPT-HS ngày 18/10/2023 đối với bị cáo Đặng Thành P do có kháng cáo của bị cáo Đặng Thành P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 124/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo: Đặng Thành P; giới tính: Nam; sinh năm 1997, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 205/10/4 H, khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: không; con ông Đặng Thành N (chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1961; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/4/2023. Bị cáo tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại (không có kháng cáo, không bị kháng nghị): Bà Nguyễn Trúc P1, sinh năm 1983; địa chỉ: 5 H, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa)

Trong vụ án còn có Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn T không kháng cáo và không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 10/03/2023, Đặng Thành P mượn xe máy honda SH Mode biển số 59C2-605.36 của bà Nguyễn Trúc P1 làm phương tiện đi lại. Ngày 15/3/2023 P điều khiển xe SH Mode sang nhà bà P1 để dọn dẹp nhà phụ bà P1 tại nhà số H N, phường P, Quận G. Khi dọn dẹp, P thấy giấy tờ xe của xe SH Mode để trong tủ kính, nên lén lút cất vào bóp của mình. Đến 18 giờ cùng ngày, bà P1 nhờ P đi đón con. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày do thiếu tiền tiêu xài nên P nảy sinh ý định đem xe đi cầm. P đem xe đến tiệm C địa chỉ F H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cầm cố xe với giá 20.000.000 đồng, sau đó P quay lại tiệm cầm đồ nhận cầm thêm 8.000.000 đồng, tổng cộng 28.000.000 đồng. Sau đó, P ra bến xe M đặt G mang giấy cầm đồ về nhà cho bà P1 và bỏ trốn.

Bị chiếm đoạt tài sản, ngày 17/3/2023 bà Nguyễn Trúc P1 đến cơ quan Công an trình báo. Đến ngày 28/3/2023, P đến tiệm C để trả tiền và đến Công an phường P, Quận G để trình diện.

Kết luận định giá tài sản số 90/KL-HĐĐGTTHS ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận 01 (một) xe máy honda SH Mode biển số 59C2-605.36 có giá trị 31.500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe máy honda SH Mode biển số 59C2-605.36 đã qua sử dụng, số khung 512XFY120253, số máy: JF51E-0339414. Xe do bà Nguyễn Trúc P1 đứng tên. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Q đã trả lại tài sản cho bà P1.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Trúc P1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường; ông Trần Đăng H chủ tiệm cầm đồ C đã nhận lại số tiền 28.000.000 đồng từ bị cáo Đặng Thành p nên không yêu cầu bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 130/CT-VKSQ7 ngày 24/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đặng Thành P về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 124/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

- Xử phạt: Bị cáo Đặng Thành P 06 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/9/2023, bị cáo Đặng Thành P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

- Bị cáo Đặng Thành P đã thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo thực hiện như Bản án sơ thẩm đã xác định, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu: Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên bị cáo phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội. Xét kháng cáo của bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp được thêm tình tiết hay chứng nào mới để làm cơ sở xem xét, mặt khác bị cáo không chấp hành đúng quy định của Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú khi thay đổi cư trú. Do đó mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên 06 tháng tù là phù hợp và tương xứng với tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội. Từ đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Ngày 31/8/2023, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Đến ngày 08/9/2023, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Đơn kháng cáo của bị cáo được lập trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

[2] Tại phiên tòa, trên cơ sở toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai về toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và nội dung bản án sơ thẩm đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Đặng Thành P là em chú bác ruột với chồng của bà Nguyễn Trúc P1. Do thấy P không có xe đi lại nên bà P1 cho bị cáo mượn xe máy Honda SH Mode biển số 59C2-605.36 làm phương tiện đi lại và chở con bà P1 đi học nhưng sau đó lợi dụng trong lúc dọn nhà cho bà P1, bị cáo P thấy bản chính giấy đăng ký xe trên và vì không có tiền tiêu xài nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt mang xe đến tiệm cầm đồ Tiến P2 nói dối là xe của chị bị cáo bận công việc không đến cầm được nhờ bị cáo đi cầm thay. Vì bị cáo là khách quen nên tiệm cầm đồ đã nhận cầm chiếc xe trên với tổng số tiền 28.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án nhân dân Quận 7 đã xét xử bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, song không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ nào mới.

Khi lượng hình thì Tòa án nhân dân Quận 7 đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi quyết định hình phạt.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nhưng tại phiên tòa phúc thẩm không cung cấp được thêm tình tiết hay chứng nào mới để làm cơ sở xem xét, mặt khác bị cáo không chấp hành đúng quy định của Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú khi thay đổi cư trú. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội do lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp và mức án 06 tháng tù đã tuyên phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất cũng như hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo đã thực hiện. Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4] Lập luận trên đây cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 124/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    - Xử phạt: Bị cáo Đặng Thành P 06 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.

  3. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án, của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM; (1)
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM; (1)
  • - TAND Quận 7; (1)
  • - VKSND Tp.HCM; (3)
  • - VKSND Quận 7; (1)
  • - P.PV06 - CA TP.HCM; (1)
  • - Chi cục THA Quận 7; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Công an Quận 7; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (21) (6)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Hồng Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 402/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 402/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thành Phát 06 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger